PHẦN 2: TƯƠNG LAI NÀO CHO TÍN CHỈ CÁC BON?
1) Hậu quả của sự nóng lên của trái đất: ô nhiễm, thiên tai, lũ lụt, nắng nóng bất thường, biến đổi khí hậu toàn cầu…
Chỉ sau 3 năm Covid từ 2019-2021 những tưởng cuộc chiến biến đổi khí hậu sẽ đi vào ngõ cụt khi mà các quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu.. tập trung nhiều hơn vào phát triển kinh tế trong và sau đại dịch do các gián đoạn sản xuất toàn cầu. Sự xuất hiện của các phong trào dân túy như chủ nghĩa “American First” của Tổng Thống Donal Trump và chủ trương hy sinh Rừng vì kinh tế của Tổng thống Brazil Bolsonaro cũng đã khiến cuộc chiến chống biến đổi khí hậu dường như đang bị xem xét lại. Tuy nhiên nhanh chóng những thảm họa của biến đổi khí hậu đã cho thấy rằng chứng chỉ Các bon không bao giờ là lạc hậu. Cũng có thể nói chứng chỉ Các bon chỉ là 1 phần của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu nhưng nó lại là phần nòng cốt nhằm giúp giảm phát thải toàn cầu và cân bằng lại hệ sinh thái của trái đất.
Mời các bạn đọc lại phần 1
Các hội nghị chống biến đổi khí hậu tương lai cần đi vào thực chất hơn thay vì toàn những khuyến nghị, hỗ trợ và đổ lỗi cho nhau. Theo nhiều chuyên gia môi trường và các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế trong 2 thập niên tới 2020-2040 sẽ hướng tới 1 nền kinh tế môi trường toàn cầu. Điều đó nghĩa là bạn sẽ phải có trách nhiệm cho mình trong mỗi hoạt động tiêu dùng ảnh hưởng tới môi trường ngay lập tức chứ không phải chờ tới tương lai. Ngày hôm qua một người Ấn Độ kiệt sức vì nắng nóng kịch điểm lên tới 40 o C có thể không hiểu tại sao? Nhưng điều này hoàn toàn có thể quy trách nhiệm cho các lượng xả thải Các bon khổng lồ đang tăng lên hàng ngày từ các hoạt động tiêu dùng và sản xuất vô trách nhiệm ở một quốc gia khác. Câu hỏi đặt ra là : “tại sao bạn phải chịu những thiên tai khí hậu xấu bất thường trong khi người khác đang kiếm lợi nhuận nhờ nó ?” Các nhà làm luật phương Tây đang chịu áp lực từ nhiều phía khi họ bị tác động từ các nhà môi trường và biến đổi khí hậu, mặt khác lại bị các tập đoàn kinh tế lớn đang xả thải lượng lớn các bon gây áp lực trong soạn thảo chính sách. Do vậy các chính sách môi trường hiện vẫn còn khá mơ hồ hoặc chưa quyết liệt.
Xem chi tiết luật môi trường 2020
2) Chứng chỉ carbon- đã đến lúc cần giám sát chặt chẽ hơn?
Điển hình cho sự mơ hồ trong áp dụng luật môi trường trong tín chỉ các bon là việc mua các tín chỉ các bon lỗi thời hoặc chứng chỉ các bon có tính chất đối phó. Phân tích dữ liệu toàn cầu mới của Nikkei Asia Review cho thấy gần 40% tín chỉ carbon mà các công ty mua đã có tuổi đời trên 5 năm, một xu hướng mà các chuyên gia cho rằng đang đe dọa tiến độ cắt giảm phát thải khí nhà kính. Nikkei đã phân tích dữ liệu từ năm 2009 được xuất bản bởi Verra, một trong những đơn vị kiểm định bù đắp carbon lớn nhất thế giới, đánh giá khoảng 99.000 tín chỉ được sử dụng để bù đắp 192 triệu tấn CO2. Dữ liệu bao gồm tên của các công ty đã mua các tín chỉ. Mặc dù các tín chỉ cũ hơn không nhất thiết là kém hiệu quả hơn trong việc giảm lượng khí thải carbon, nhưng chúng có thể cản trở nỗ lực cắt giảm khí nhà kính, vì một khi tín chỉ được cấp, các tổ chức trung gian hiếm khi xét xem dự án có được thực thi thể theo tín chỉ hay không, chẳng hạn như việc trồng rừng. Một dự án trồng rừng ở miền Trung Ấn Độ, được cấp tín chỉ từ năm 2012 đến năm 2014, là minh họa rõ ràng về những khó khăn. Hình ảnh vệ tinh cho thấy phát quang cây cối trong khu vực dự án ngày càng nhiều và cả việc xây dựng các tấm pin mặt trời cũng không hề thua kém.
Một dự án trồng rừng ở Uruguay dự tính kéo dài 100 năm, theo đó tín chỉ carbon được cấp vào năm 2007 và vẫn được giao dịch vào năm ngoái, đã đi vào bế tắc, dẫn đến nạn phá rừng thậm chí còn nhiều hơn.
Như vậy hôm nay một công ty mua tín chỉ các bon hình thành từ việc trồng 1 khoảnh rừng tại 1 quốc gia nghèo có giá trị 3-5 năm nhưng chỉ năm sau có thể khoảnh rừng đó đã biến mất do vấn đề kinh tế tại địa phương và do vậy tín chỉ này là vô nghĩa về mặt cân bằng khí hậu.
Phân tích của Nikkei cho thấy 38% các tín chỉ đã xác nhận mà các công ty mua – tương đương 73 triệu tấn CO2 trên 5 năm tuổi, trong khi hơn 4% ít nhất 10 năm tuổi và chỉ 37% từ ba tuổi trở xuống.
Nếu các khoản tín chỉ ủng hộ các dự án thất bại như vậy tiếp tục được giao dịch, chúng sẽ làm suy yếu nỗ lực khử carbon trên toàn cầu.
3) Dự báo thị trường tín chỉ các bon tương lai?
Thị trường tín chỉ Các bon thực tế mới chỉ vận hành và áp dụng cho các công ty lớn và nhiều các quốc gia phát triển. Trong khi đó nhiều nước trong bộ luật thậm chí còn không nhắc tới khái niệm này. Như vậy cơ bản nó mới phủ sóng được 1 lượng quá nhỏ các công ty và cá nhân gây xả thải các bon trên toàn cầu. Nhưng tình hình biến đổi khí hậu khẩn cấp hiện tại rõ ràng nó cần áp dụng đại trà rộng rãi hơn. Theo một số chuyên gia môi trường các định hướng áp dụng tương lai của chỉ số các bon sẽ được thay bằng chỉ số gây ô nhiễm tổng hợp. Chỉ số này không thể chỉ áp dụng cho các công ty hoặc các Quốc gia chung chung mà cần áp lên từng cá nhân. Điều đó có nghĩa là nếu hôm nay bạn đi xe máy, bạn tiêu thụ 1 lít xăng A92 thì ngay lập tức 1 mức thuế môi trường đã áp lên bạn qua giá xăng bạn tiêu thụ. Các hàng hóa khác nếu gây xả thải các bon lớn hơn quy định thì nó sẽ áp lên công ty sản xuất ra hàng hóa đó, nhưng sau đó nó sẽ thể hiện ngay trên giá thành sản phẩm mà bạn mua.
Tuy nhiên tín chỉ các bon không phải chỉ là áp ra thuế hoặc mức phạt mà còn thể hiện ở tín dụng mà bạn nhận được khi làm giảm xả thải các bon. Điều đó thể hiện qua việc bán tín chỉ các bon từ các công ty khác như việc trồng rừng, duy trì mức độ phủ xanh cây cối hoặc đơn giản chỉ là bạn đã tiết kiệm hơn lượng các bon được xả. Việc này với cá nhân là hoàn toàn có thể dù khó đo đếm hơn 1 chủ thể kinh tế. Ví dụ : 1 người dân sẽ được áp 1 hạn mức tín chỉ các bon nhất định, nhưng khi bạn chi tiêu tiết kiệm bằng việc đi bộ thay vì đi xe máy, đi phương tiện GT công cộng thay vì đi ô tô riêng, bạn được ghi nhận đã tiêu thụ tín chỉ các bon thấp hơn bình thường và bạn sẽ được thưởng. Ý tưởng này đang được nhiều nhà môi trường học rất hứng thú vì rõ ràng nó sẽ rất thực tế thay vì mơ hồ, và rõ ràng hơn nữa là những người nghèo sẽ được lợi hơn vì tiêu dùng ít hơn .
Tuy vậy ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng nếu nó không được đưa vào thực tế.
Do vậy việc các nhà làm luật môi trường sẽ xây dựng Luật về tín chỉ các bon chi tiết tới đâu và nó được áp dụng thế nào là 1 câu hỏi bỏ ngỏ cho tương lai.
WINCO là một trong những công ty Luật tiên phong trong các hoạt động vì môi trường, WINCO đã và đang hợp tác cùng các cơ quan hữu quan để góp ý sửa đổi hoàn thiện Bộ Luật môi trường 2020 nhằm tiến tới sửa đổi Bộ Luật môi trường 2023-2024. Chúng tôi luôn ý thức về tầm quan trọng của những nhà làm luật trong việc định hướng một môi trường pháp lý lành mạnh bảo vệ môi trường môi sinh và sinh cảnh của người dân và các loài sinh vật trên hành tinh, WINCO cũng hướng tới các hoạt động tích cực với các loài động vật hoang dã và cây xanh tại Việt Nam. WINCO trân trọng giới thiệu tới các bạn bài viết tìm hiểu về tín chỉ các bon (Carbon credit) và ý nghĩa của nó trong việc chống lại sự nóng lên của trái đất và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ở phần 3 tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày về việc tín chỉ Các bon đang có ý nghĩa thế nào với các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như các hệ thống luật đang được áp dụng tại Việt nam liên quan tới vấn đề này. Ngoài ra cũng là khuyến nghị về vấn đề mở rộng hơn Luật môi trường để cập nhật những biến đổi hiện nay trên thế giới trong vấn đề tín chỉ các bon và chống ô nhiễm.
Link Phần 3: VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG TÍN CHỈ CÁC BON .
PHẦN 1: Sự ra đời của tín chỉ các bon trên thế giới
1) Tín chỉ các bon là gì?
Tín chỉ các-bon trong tiếng Anh là Carbon Credit .
Tín chỉ các-bon là giấy phép hoặc giấy chứng nhận cho phép chủ sở hữu nó, ví dụ như công ty, phát thải khí CO2 hoặc các loại khí nhà kính khác. Mỗi tín chỉ giới hạn lượng phát thải đến một tấn CO2. Mục tiêu cuối cùng của tín chỉ các-bon là giảm phát thải khí nhà kính vào khí quyển.
Tín chỉ các-bon về bản chất là giấy phép do chính phủ hoặc cơ quan quản lí khác cấp, cho phép chủ sở hữu của nó đốt một lượng nhiên liệu hydrocacbon xác định trong một khoảng thời gian được qui định.
Mỗi tín chỉ các-bon có giá trị tương đương với một tấn nhiên liệu hydrocacbon. Các công ty hoặc quốc gia được phân bổ một lượng tín chỉ nhất định và có thể giao dịch chúng để giúp cân bằng tổng lượng khí thải trên toàn thế giới. Liên Hợp Quốc lưu ý, “Vì CO2 là khí nhà kính chính” nên “mọi người gọi đơn giản là kinh doanh các-bon.”
Xem chi tiết luật môi trường 2020
2) Tại sao Tín chỉ các bon ra đời?
Mục tiêu của chứng chỉ Các bon là làm giảm ô nhiễm toàn cầu và chặn lại sự nóng lên của trái đất, để làm việc đó Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu và các tổ chức khác đã đề xuất 1 cơ chế khiến các công ty xả thải khí nhà kính nhiều phải trả tiền cho sự ô nhiễm của mình và ngược lại các cơ sở, công ty khác đang góp phần làm giảm ô nhiễm thông qua các hoạt động sinh thái như trồng rừng, phát triển công nghệ sạch sẽ nhận được lợi nhuận từ công việc của họ nhờ việc chứng minh họ đã làm giảm lượng khí thải các bon.
Năm 1997 đã ra đời Nghị định thư Kyoto đặt ra các mục tiêu giảm phát thải ràng buộc cho các quốc gia đã kí kết, bắt đầu có hiệu lực vào năm 2005. Một thỏa thuận khác là Hiệp định Marrakesh nêu ra các qui tắc về cách thức thực hiện hệ thống. Các quốc gia được khuyến khích đạt được mục tiêu của họ thông qua cơ chế giao dịch khí phát thải.
Thời hạn cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto đã kết thúc vào năm 2012 và giao thức này đã được sửa đổi vào năm đó trong một thỏa thuận được gọi là Sửa đổi Doha, nhưng vẫn chưa được thông qua. Trong khi đó, hơn 170 quốc gia đã kí kết Thỏa thuận Paris 2015, cũng đưa ra các tiêu chuẩn khí thải và cho phép giao dịch khí thải.
Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 2021 (tiếng Anh: 2021 United Nations Climate Change Conference), thường được biết đến nhiều hơn với tên viết tắt COP26 tổ chức tại Trung tâm SEC ở Glasgow cũng đã đạt được thỏa thuận lớn về cắt giảm các hoạt động gây ô nhiễm môi trường , khôi phục trồng rừng và tài trợ trực tiếp cho các quốc gia đang phát triển nhằm giảm lượng phát thải gây ô nhiễm. Tuy nhiên tại hội nghị này vấn đề tín chỉ các bon (CO2 Credit) vẫn chỉ là khuyến khích và tài trợ các quốc gia đang phát triển có các biện pháp để làm giảm lượng các bon xả thải. Tuy vậy chưa có cơ chế rõ rệt về việc các quốc gia này sẽ có các lợi ích thiết thực từ việc làm giảm khí thải các bon.
Sở dĩ tín chỉ các bon chưa được coi trọng và phổ biến tại các quốc gia đang phát triển là vì hiện nay chủ yếu nguồn ô nhiễm CO2 vẫn đến từ các ngành công nghiệp lớn của các cường quốc như Mỹ, Tây Âu và Trung Quốc. Chính tại các quốc gia Châu Âu và Mỹ, thị trường tín chỉ các bon phát triển rất nhộn nhịp. Việc mua bán tín chỉ các bon trở lên công khai.
Có thể ví dụ về mua bán tín chỉ các bon như sau:
Giả sử công ty Cổ phần Công nghiệp A có giới hạn 10 tấn nhưng tạo ra 12 tấn khí thải. Công ty B cũng có giới hạn phát thải 10 tấn nhưng chỉ phát thải 8 tấn, dẫn đến dư thừa 2 tín chỉ. Công ty A có thể mua các tín chỉ bổ sung từ công ty B để tuân thủ các qui định về môi trường .
Nếu không mua các tín chỉ các-bon đó, công ty A sẽ phải đối mặt với các hình phạt. Tuy nhiên, nếu giá của các tín chỉ vượt quá mức phạt của chính phủ, một số công ty có thể lựa chọn chấp nhận các hình phạt và tiếp tục hoạt động bình thường.
Bằng cách tăng tiền phạt, các cơ quan quản lí có thể làm cho việc mua bán tín chỉ trở nên hấp dẫn hơn. Họ cũng có thể giảm số tín chỉ phát hành mỗi năm, làm cho tín chỉ có giá trị hơn trong thị trường mua bán phát thải và tạo ra động lực cho các công ty đầu tư vào công nghệ sạch khi nó trở nên rẻ hơn so với việc mua tín chỉ các-bon hoặc nộp tiền phạt.
Để hiểu rõ hơn tại sao cần vận hành 1 thị trường tín chỉ các bon (CO2 Credit) và Việt Nam được lợi gì từ điều này, xin các bạn hãy xem phần 2: Tương lai thị trường tín chỉ các bon toàn cầu và Việt nam nên tham gia như thế nào vào thị trường các bon này?
