1. Cam kết của Việt Nam về chống biến đổi khí hậu:

Như chúng ta đã biết và cần nhắc lại: Tín chỉ các-bon là một loại giấy phép hay chứng chỉ đại diện cho việc giảm phát thải một tấn CO2 hoặc một lượng khí nhà kính (KNK) tương đương với một tấn CO2. Các tín chỉ này có thể dùng để giao dịch và trao đổi trong thị trường các-bon, nhằm thúc đẩy việc thực hiện các hoạt động giảm phát thải KNK.

Chúng ta đều biết có 2 loại thị trường tín chỉ các bon chính trên thế giới:

Câu hỏi đặt ra là Việt Nam đang tham gia vào thị trường tín chỉ các bon bắt buộc hay tự nguyện? Nhìn chung có thể nói chúng ta đang tồn tại cả 2 thị trường nói trên nhưng chủ yếu đang trong quá trình thực hiện tín chỉ các bon tự nguyện theo các cam kết của chính phủ tới năm 2028. Phát biểu tại Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu toàn cầu COP26 tổ chức tại Vương quốc Anh ngày 01-11-2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết biến đổi khí hậu đã thực sự trở thành thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh ba thông điệp quan trọng: 1. ứng phó với biến đổi khí hậu là ưu tiên đạo đức hàng đầu của tất cả ban ngành, 2. dựa vào hoàn cảnh mỗi quốc gia cần cam kết giảm phát thải nhà kính mạnh mẽ để kiềm chế sự biến đổi khí hậu toàn cầu, 3. tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ  đóng vai trò quan trọng để thực hiện thành công thỏa thuận Paris. Dựa trên 3 thông điệp này Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra cam kết Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

2. Thị trường tín chỉ các bon sẽ hoạt động theo lộ trình vào 2028:

Tại Việt Nam thị trường tín chỉ các bon đang trong quá trình xây dựng theo lộ trình cụ thể là đến hết năm 2027. Bộ Luật Môi trường ký năm 2020 sẽ chính thức có hiệu lực vào 1/1/2022 trong đó có nhắc tới việc cam kết giảm phát thải CO2 và xây dựng hành lang pháp lý liên quan tới tín chỉ các bon hay còn gọi là hệ thống trao đổi tín chỉ các bon (ETS- the carbon Emission Trading Scheme). Theo Ngân hàng thế giới- đơn vị tài trợ chính cho nhiều dự án thẩm định và tiêu chuẩn hóa hệ thống trao đổi tín chỉ các-bon (ETS) hoat động thì sẽ cần có các chính sách và công cụ bổ sung quy định về kiểm kê KNK quốc gia, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV- monitoring, reporting and verification system) và lập đơn vị quản lý ở cấp quốc gia về đăng ký phát thải. Để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống trao đổi tín chỉ các-bon của Việt Nam dự kiến ​​sẽ tiến hành với các đơn vị phát thải lớn KNK trước khi nhân rộng ra các đơn vị phát thải ít hơn.

Cũng theo các nghiên cứu của World Bank, mật độ các-bon quốc gia trên GDP của Việt Nam tăng 48% trong giai đoạn 2000-2010, cao thứ hai ở Đông Á. Từ năm 2010 đến năm 2020, lượng khí thải CO2 tăng gần gấp 4 lần, phần lớn là từ nhiệt điện than, các hoạt động phát thải công nghiệp và giao thông[1]. Do vậy mục tiêu của Bộ Luật bảo vệ môi trường hiện nay cần đạt được các mục tiêu:

3. Những giải pháp cần ngay cho thị trường tín chỉ các bon Việt Nam

Nếu ở các mục trên chúng ta thấy rõ các cam kết và mục tiêu của Việt Nam do cả chính phủ lẫn các tổ chức quốc tế khuyến nghị để đưa Việt Nam thành một quốc gia xanh thì thực tế đang khiến chúng ta đặt ra nhiều câu hỏi???

a, Thứ nhất chúng ta cần có đầy đủ các nghiên cứu về tiềm năng cấp tín chỉ các bon với các hệ sinh thái nông lâm nghiệp hiện tại ở Việt Nam.

Theo các nghiên cứu và khuyến nghị về thị trường các bon do các tổ chức quốc tế tài trợ, điển hình là World Bank và ngân hàng phát triển Châu Á (ADP) thì các đánh giá, báo cáo hiện mới thể hiện trên một lượng nhỏ diện tích cây nông lâm nghiệp tại Việt Nam, trong đó còn ít nhất 30% các diện tích rừng thuộc sở hữu quốc gia chưa được đánh giá đầy đủ để có thể cấp tín chỉ các bon. Gần đây nhất lượng tín chỉ các bon được đánh giá, đo đạc và được ngân hàng thế giới chuyển ra thị trường các bon quốc tế là 10,3 triệu tấn tương đương 1.250 tỷ đồng. Việt Nam vừa chuyển giao xong 10,3 triệu tấn CO2 cho Ngân hàng Thế giới, thu về gần 1.250 tỷ đồng. Đây là thông tin mới nhất vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo cáo Thủ tướng. Theo đó, số tín chỉ carbon thu được từ rừng thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Việc bán tín chỉ carbon nằm trong thỏa thuận chi trả phát thải nhà kính (ERPA) vùng Bắc Trung Bộ được ký ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Một lượng lớn rừng có thể bán tín chỉ các bon như các rừng chè shan tuyết tại Hà giang, Yên bái, Lào cai… vẫn còn nhiều tiềm năng. Đó là chưa kể các loại cây trồng tại các khu rừng Phòng hộ và Rừng dân sinh do dân tự trồng và kinh doanh đều là các cây trồng lâu năm tồn tại lâu dài có đủ tiềm năng được cấp tín chỉ các bon nhưng do một số điều kiện chưa được đưa vào diện tính tín chỉ các bon.

Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng -Hiệp hội chè (VITAS) cho biết hàng năm ngân hàng ADP và World Bank đều có những tài trợ cho các nghiên cứu đánh giá tỷ lệ rừng, triển vọng của tín chỉ các bon trong các cây trồng lâu năm tại Việt Nam. Trong báo cáo mới nhất của Hiệp Hội chè (VITAS) về “Đánh giá hiệu quả hấp thụ các bon, giảm phát thải khí nhà kính trong thực hành quản lý trang trại sản xuất chè” đã cho thấy những cây nông nghiệp phổ biến như cây Chè Trung du, chè Shan tuyết có lượng hấp thụ các bon rất khả quan. Bỏ qua các tính toán phức tạp có tính chất chuyên môn chúng tôi nêu thẳng một kết luận rằng: chỉ với cây trồng nông nghiệp phổ biến như cây chè ngoài việc cung cấp công ăn việc làm cho khoảng 500.000 lao động mỗi năm còn giúp hấp thụ được một lượng thải các bon rất lớn nếu chúng ta có các nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống hỗ trợ nông dân trong việc kiểm soát việc bón phân, chăm sóc cũng như tính toán lượng hấp thu các bon để có thể cấp tín chỉ. Với cây chè trồng tập trung, tại Hà Giang với diện tích chè trồng 375,61 ha có độ tuổi từ 5 đến 40 tuổi, tổng lượng WCO2e tích lũy là 29.193,07 tấn, trung bình mỗi ha trồng chè có thể hấp thụ được 77,72 tấn CO2e. Với diện tích chè trồng phân tán, chè Shan núi cao, trên diện tích 108,1 ha chè trồng tại 3 tỉnh (Yên Bái, Hà Giang, Lào Cai)  tổng lượng WCO2e  tích lũy  đươc là 4.962,93 tấn, trung bình mỗi ha chè hấp thu và tích lũy được 45,91 tấn CO2e. Việc thực hành nông nghiệp tốt, chăm sóc cây chè theo tiêu chuẩn, giảm bón phân vô cơ, tăng cường bón phân hữu cơ sẽ giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính.

Đối với các loại cây trồng lâu năm khác hiện các điều tra còn tương đối ít và các diện tích rừng có thể cấp tín chỉ các bon vẫn còn nhiều cơ hội.

b, Thứ hai các cơ quan nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như thành lập các bộ phận riêng có chức năng thẩm định tín chỉ các bon với thẩm quyền quốc gia. Cơ quan hiện nay có thẩm quyền để kiểm tra, thẩm định và chứng nhận tín chỉ các bon là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, Bộ TN&MT đã ban hành các thủ tục xác nhận tín chỉ các-bon, hạn ngạch phát thải khí nhà kính được giao dịch trên sàn giao dịch của thị trường các-bon trong nước; đăng ký chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon. Các tổ chức có nhu cầu xây dựng chương trình, dự án sẽ nộp hồ sơ theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bộ sẽ tổ chức đánh giá và gửi thông báo cho tổ chức về việc quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận chương trình, dự án trong thời hạn tối đa 38 ngày.

Thực tế, tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tham gia, xây dựng và thực hiện các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, đặc biệt là các hoạt động theo Cơ chế phát triển sạch CDM và Cơ chế tín chỉ chung JCM do Nhà nước quản lý. Một số cơ chế tạo tín chỉ các-bon theo hình thức tự nguyện cũng đã được nhiều tổ chức trong nước áp dụng triển khai cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính như Tiêu chuẩn vàng (GS), Tiêu chuẩn các-bon được thẩm tra (VCS). Theo Bộ TN và MT những năm qua, việc mua bán tín chỉ các-bon thu được từ các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo các cơ chế trên đã cho thấy những tín hiệu khả quan. Riêng 4 triệu tín chỉ từ các dự án CDM mang về hơn 15 nghìn tỷ đồng, giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính để mở rộng sản xuất, kinh doanh, đồng thời giảm chi phí trả lãi tiền vay, có thêm động lực phát triển.

Tuy nhiên hiện nay chỉ có cơ quan là Bộ TN&MT thẩm định dự án nhưng về lâu dài cần có 1 bộ phận liên ngành có chức năng hỗ trợ thẩm định tín chỉ các bon. Điều này liên quan tới uy tín của cơ quan thẩm định, nếu chúng ta chậm chân có thể bị thua ngay trên sân nhà vì nếu cơ quan thẩm định chưa chuyên nghiệp thì uy tín của chứng chỉ có thể không được công nhận, đặc biệt là ở các thị trường khó tính như Châu Âu. Thậm chí có lúc chúng tôi đã nghĩ tới việc các cơ quan thẩm định tư nhân nước ngoài có thể tự làm chức năng này thay vì phải qua Việt Nam với nhiều thủ tục phức tạp. Thuần túy việc thẩm định chỉ số các bon là công việc thuộc cả về quản lý vừa là các đánh giá khoa học, ngoài ra nó còn liên quan trách nhiệm đánh giá dự án định kỳ. Như chúng tôi đã nói ở các bài báo khác, nhiều tín chỉ các bon đã bị gạt bỏ do nó được cấp ở những nơi mà khởi đầu là rừng lâu năm sau đó dần biến thành đất cho các mục đích khác. Lúc này vai trò của các cơ quan quản lý và thẩm định là vô cùng quan trọng. Chỉ thông qua ảnh vệ tinh các tổ chức khác có thể đánh giá dự án đã cấp tín chỉ các bon đó có thực sự tồn tại???

Bộ TN&MT hiện đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Đề án Phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam. Theo lộ trình đề xuất, giai đoạn từ nay đến hết năm 2027, Bộ TN&MT phối hợp cùng Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan sẽ tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc tổ chức, vận hành thị trường các-bon trong nước. Năm 2025 bắt đầu thí điểm và từ năm 2028, chính thức vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon. Sau đó, Việt Nam cũng sẽ ban hành các quy định về kết nối, trao đổi tín chỉ các-bon trong nước với thị trường các-bon các nước trong khu vực và thị trường các-bon thế giới. Giai đoạn sau năm 2030, tiếp tục vận hành và mở rộng thị trường các-bon trong nước và kết nối với thị trường các-bon khu vực và thế giới.

c, Thứ ba, cần đánh giá lại lượng phát thải các bon của chúng ta và tìm ngay biện pháp để giảm phát thải.

4) Kết luận:

Với những thông tin được đưa ra chúng tôi không dám đưa ra các khuyến nghị lớn nhưng rõ ràng nó cần được các cơ quan hữu quan nhìn nhận nghiêm túc. Sau đây là các kết luận có tính chất cá nhân:

– Cần có cơ quan quốc gia về kiểm định và cấp phép chứng chỉ các bon. Đó cần là 1 cơ quan liên bộ trực thuộc chính phủ để tham mưu và đưa ra các khuyến nghị cho chính phủ trong việc giảm thải các bon. Cơ quan này cũng cần là nơi hỗ trợ kiểm định và cấp chứng chỉ các bon. Ngoài ra cơ quan này có thể hỗ trợ các tổ chức cá nhân trong việc triển khai các dự án giảm thải các bon.

Cuối cùng trên hết thì việc giảm phát thải các bon không chỉ là việc của 1 Bộ ban ngành hay chính phủ mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân. Chỉ khi người dân ý thức rõ rệt về tầm quan trọng của hạn chế phát thải các bon toàn cầu thì những chính sách nhằm hạn chế KNK của chính phủ mới có tác dụng lâu bền. Do vậy việc tuyên truyền, quảng bá về ý nghĩa của việc giảm phát thải các bon tới toàn dân là một vấn đề cần thực hiện càng sớm càng tốt.

Hy vọng rằng những cam kết của Việt Nam về phát thải các bon bằng 0 sẽ sớm thành hiện thực.

Tài liệu tham khảo:

  1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách vận hành thị trường các-bon trong nước- Website Bộ TN&MT: https://monre.gov.vn/Pages/hoan-thien-co-che,-chinh-sach-van-hanh-thi-truong-cac-bon-trong-nuoc.aspx
  2. Báo Nghệ An: Nhà máy sữa và trang trại bò sữa Vinamilk Nghệ An đạt trung hòa các bon theo tiêu chuẩn quốc tế – ngày 26/05/2023
  3. Carbon Pricing Aids Vietnam’s Efforts Towards Decarbonization – Ngân Hàng World Bank
  4. Đánh giá hiệu quả hấp thụ các bon, giảm phát thải khí nhà kính trong thực hành quản lý trang trại sản xuất chè- Nguyễn Thị Ánh Hồng- Hiệp hội chè Vitas
  5. Mô hình định giá các bon trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam- Nguyễn Hoàng Nam Viện nghiên cứu kinh doanh (UEH).
  6. Giao dịch tín chỉ các-bon: Kỳ vọng thị trường tại Việt Nam- Báo Điện tử Tài Nguyên và Môi trường- Bộ TN&MT Việt Nam.
  7. Hạn ngạch phát thải trở thành tài sản của doanh nghiệp- Báo Điện tử Tài Nguyên và Môi trường- Bộ TN&MT Việt Nam.

Phần 1: Đến bao giờ Việt Nam sẽ xây dựng riêng luật về tín chỉ các bon và thị trường tín chỉ cacbon?

Phần 2: Đến bao giờ Việt Nam sẽ hoàn thiện bộ luật Môi trường về tín chỉ các bon và thị trường tín chỉ cacbon – phần 2?