Theo Quyết định số 744/QĐ-QLD ngày 13/12/2025, Cục Quản lý Dược đã thông báo về việc thu hồi 02 số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm do Cục Quản lý Dược cấp đối với sản phẩm mỹ phẩm do Công ty TNHH quốc tế Đại Cát Á (Địa chỉ doanh nghiệp: 43D/44 Hồ Văn Huê, phường 9, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Mã số doanh nghiệp: 0306410324) chịu trách nhiệm đưa ra thị trường.

Các sản phẩm bị thu hồi số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm bao gồm: Black Pearl Peptide Patch (Số tiếp nhận Phiếu công bố: 197678/23/CBMP-QLD; Tên nhà sản xuất: NOKSIBCHO COSMETIC CO., LTD; Địa chỉ nhà sản xuất: 44B 11L, 302, Namdong-daero,Namdong-Gu, Incheon, Korea; Ngày cấp: 20/03/2023) và Dr.Iaso Cica-Maca Cream (Số tiếp nhận Phiếu công bố: 221914/24/CBMP-QLD; Tên nhà sản xuất: KOLMAR KOREA Co.,Ltd.; Địa chỉ nhà sản xuất: 22-17 Sandan-Gil, JeonuiMyeon, Sejong-Si Korea; Ngày cấp: 09/01/2024).
Nguyên nhân thu hồi do các sản phẩm Không có Hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF) xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Giám đốc Công ty TNHH quốc tế Đại Cát Á và Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Trước đó, vào tháng 10/2025, Cục Quản lý Dược đã ban hành Quyết định số 553/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Quốc tế Đại Cát Á do có hành vi kinh doanh mỹ phẩm không có hoặc không xuất trình hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF) trong thời hạn theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi trên đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 21 Điều 2 Nghị định số 124/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ.
Các tình tiết tăng nặng có 23 sản phẩm mỹ phẩm vi phạm cùng hành vi cùng thời điểm kiểm tra.
Với các vi phạm trên, Công ty TNHH Quốc tế Đại Cát Á bị phạt tiền với mức phạt là 75.000.000 đồng.
Ngoài bị phạt tiền, công ty này còn bị áp dụng biên pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy toàn bộ 23 sản phẩm mỹ phẩm vi phạm.

Trước đó, vào tháng 6/2025, tại thông bá số 1774/QLD-MP, Cục Quản lý Dược đã quyết định đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc đối với 20 sản phẩm của Công ty TNHH quốc tế Đại Cát Á – Tổ chức chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường (địa chỉ doanh nghiệp kê khai trên hồ sơ công bố: 43D/44 Hồ Văn Huê, phường 9, Quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh, mã số doanh nghiệp:0306410324).
Cụ thể, các lô sản phẩm Queendoes Rhea Serum số DARF08 và Renewing concentrate số 42078 đã bị thu hồi do “Mỹ phẩm lưu thông có công thức không đúng như hồ sơ đã công bố”.
Cùng với đó, 18 sản phẩm còn lại bao gồm: Queendoes Essential Ac Healer Serum số lô DAACF09, Dr.IASO AC Booster số lô EOW2, The Skin House Crystal Whitening Plus Serum số lô XA01E, DR.IASO Triple-M Hydrating Cream số lô EM32, Queendoes Essential PDRN Serum số lô DAPF09, The Skin House Wrinkle System Cream số lô XK01, Dermal Hyaluron 3 Filler Concentrate số lô12117, Dermal Mimic Lift Concentrate số lô 12087; Dermal Lift Repair Concentrate số lô 42357, Dermal Hyaluron Booster Concentrate số lô 12166, Renewing Face Cream số lô 52117, The Skin House Wrinkle Collagen Toner số lô XD01, Anti-Stress Cure số lô 12097, Matrix Repair Concentrate số lô 52078, Glow Peeling số lô 52456, Renewing concentrate số lô 42078, Progressive Age Care Serum số lô EEF1, Restorative Concentrate số lô 32447 cũng bị đình chỉ lưu hành và thu hồi do phát hiện các sản phẩm được ghi nhãn công dụng không phù hợp với hồ sơ công bố.
Tại thông báo, Cục Quản lý Dược Đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông báo cho các cơ sở kinh doanh, sử dụng mỹ phẩm trên địa bàn ngừng ngay việc kinh doanh, sử dụng 20 sản phẩm nêu trên và trả lại cơ sở cung ứng sản phẩm. Đồng thời tiến hành thu hồi 20 sản phẩm vi phạm nêu trên; kiểm tra, giám sát các đơn vị thực hiện thông báo này; xử lý các đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành.
Công ty TNHH quốc tế Đại Cát Á phải thông báo thu hồi tới những nơi phân phối, sử dụng 20 sản phẩm nêu trên; Tiếp nhận sản phẩm trả lại từ các cơ sở kinh doanh và tiến hành thu hồi toàn bộ 20 sản phẩm không đáp ứng quy định nêu trên.

Cụ thể, Cục Quản lý Dược yêu cầu thu hồi để tiêu hủy đối với 2 sản phẩm Queendoes Rhea Serum, Renewing concentrate có số lô nêu trong thông báo.
Đối với 18 sản phẩm Queendoes Essential Ac Healer Serum, Dr.IASO AC Booster, The Skin House Crystal Whitening Plus Serum, DR.IASO Triple-M Hydrating Cream, Queendoes Essential PDRN Serum, The Skin House Wrinkle SystemCream, Dermal Hyaluron Filler 3 Concentrate, Dermal Mimic Lift Concentrate, Dermal Lift Repair Concentrate, Dermal Hyaluron Booster Concentrate, Renewing Face Cream, The Skin House Wrinkle Collagen Toner, Anti-Stress Cure, Matrix Repair Concentrate, Glow Peeling, Renewing concentrate, Progressive Age Care Serum, Restorative Concentrate có số lô nêu trên: Tiếp nhận sản phẩm trả lại từ các cơ sở kinh doanh và tiến hành thu hồi toàn bộ sản phẩm không đáp ứng quy định. Trường hợp không loại bỏ yếu tố vi phạm (không thể tách rời nhãn hàng hóa vi phạm ra khỏi hàng hóa) thì buộc tiêu hủy sản phẩm theo quy định tại khoản 54 Điều 2 Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Sau nhiều thập kỷ bị cáo buộc làm hàng giả, sao chép các thương hiệu nước ngoài, các doanh nghiệp Trung Quốc hiện nay đang đảm nhiệm vai trò kép, vừa là bên vi phạm, vừa là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
BYD, DeepSeek và Pop Mart là những doanh nghiệp Trung Quốc thường xuyên xuất hiện trên truyền thông quốc tế với những câu chuyện gắn liền với cả thành công toàn cầu và các tranh cãi. Tuy nhiên, điều thường bị bỏ qua là các công ty này phản ánh rõ nét sự chuyển dịch nhanh chóng của Trung Quốc, từ “công xưởng thế giới” chuyên sản xuất hàng hóa giá rẻ, chất lượng thấp, giá trị gia tăng thấp, sang một quốc gia đổi mới sáng tạo, cạnh tranh ngày càng ngang bằng với các doanh nghiệp phương Tây trong phân khúc sản phẩm chất lượng cao, thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực xe điện.
Sự chuyển dịch này diễn ra song song với những thay đổi lớn trong chế độ bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc. Sau nhiều năm bị gắn mác là thiên đường của hàng nhái, các doanh nghiệp Trung Quốc ngày nay không chỉ còn là đối tượng bị cáo buộc xâm phạm IP, mà ngày càng trở thành chủ thể sở hữu và bảo vệ IP của chính mình. Thị trường đồ chơi sưu tầm, đặc biệt là những búp bê quái vật răng nhọn mang tên Labubu của Pop Mart, là một ví dụ tiêu biểu cho quá trình tiến hóa này.

Lược sử bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc
Sở hữu trí tuệ lần đầu trở thành một vấn đề mang tầm quốc gia ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách. Năm 1980, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), và trong những năm sau đó đã ban hành các đạo luật tương đối toàn diện về bằng sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu. Tuy nhiên, việc bảo hộ IP khi đó chủ yếu tồn tại trên giấy tờ, khâu thực thi yếu kém và tình trạng làm hàng giả diễn ra phổ biến.
Chỉ đến khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001, hệ thống IP của nước này mới bắt đầu từng bước tiệm cận các tiêu chuẩn toàn cầu. Dù vậy, luật pháp vẫn chưa đủ, do việc thực thi còn chậm chạp, thiếu động lực ở cấp địa phương, vấp phải sự phản kháng từ một bộ phận ngành sản xuất, cùng nhiều yếu tố mang tính cấu trúc khác. Mặc dù đã tham gia Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Trung Quốc trong thời gian dài vẫn bị xem là trung tâm toàn cầu của hàng giả và là quốc gia vi phạm IP nước ngoài một cách có hệ thống.
Sự chuyển biến mang tính bước ngoặt chỉ thực sự bắt đầu từ những năm 2010, khi chính phủ Trung Quốc coi IP là một tài sản chiến lược. Cách tiếp cận mới này được thể chế hóa trong chiến lược “Made in China 2025”, trong đó việc tăng cường bảo hộ IP được xem là điều kiện tiên quyết để xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Quá trình thể chế hóa tiếp tục được đẩy nhanh với việc thành lập các tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại ba thành phố lớn. Năm 2021, Bắc Kinh công bố kế hoạch “Xây dựng quốc gia mạnh về sở hữu trí tuệ”, tuyên bố rằng đến năm 2035, năng lực cạnh tranh IP của Trung Quốc sẽ nằm “trong nhóm hàng đầu thế giới”.
Khi Trung Quốc vươn lên dẫn đầu toàn cầu về số lượng đơn đăng ký sáng chế, vấn đề bảo hộ IP càng được Đảng Cộng sản Trung Quốc ưu tiên cao hơn. Chỉ riêng năm 2023, Trung Quốc đã nộp 47,2% tổng số đơn sáng chế toàn cầu, vượt xa Mỹ và Nhật Bản, lần lượt đạt 16,8% và 8,4%. Cũng trong năm này, Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia Trung Quốc (CNIPA) tiếp nhận hơn 1,6 triệu đơn đăng ký sáng chế.
Quan trọng hơn cả, một động lực lớn thúc đẩy Trung Quốc tăng cường quản trị IP chính là vấn đề chuyển giao công nghệ, tức yêu cầu bảo vệ các công nghệ then chốt phục vụ mục tiêu tự chủ trong các lĩnh vực công nghệ cao. Song song với đó, khái niệm IP tại Trung Quốc cũng được mở rộng, không chỉ bao gồm bằng sáng chế và nhãn hiệu, mà còn cả dữ liệu và tài sản số.
Ở thời điểm hiện tại, những mối lo của Trung Quốc không chỉ đơn giản xoay quanh “Lafufu”, “Lagogogo”, “Lababie” hay các phiên bản nhái khác của dòng Monster của Pop Mart, bảo hộ IP chính là sự thể hiện tham vọng của các tập đoàn công nghệ đang ngày càng hùng mạnh của quốc gia tỷ dân này.

Nghịch lý Lafufu: Từ sao chép đến đổi mới và trấn áp
Trong thị trường đồ chơi sưu tầm, mô hình “blind box” (hộp mù) dựa trên sự khan hiếm đã giúp lợi nhuận của Pop Mart tăng vọt 400% trong năm nay, được thúc đẩy thêm bởi thị trường thứ cấp sinh lời cao, nơi giá bán lại đã đẩy Labubu lên gần với phân khúc hàng xa xỉ. Hiện tại, Pop Mart được định giá cao hơn cả các nhà sản xuất đồ chơi toàn cầu lớn như Mattel, Hasbro và Sanrio cộng lại.
Tuy nhiên, thành công của Labubu cũng kéo theo một hệ quả dễ đoán, vốn từ lâu đã gắn liền với cách Trung Quốc đối xử với IP nước ngoài, đó là nạn làm hàng giả. Các búp bê nhái mang tên Lafufu hiện được bán trên toàn cầu, bao gồm cả tại những chuỗi bán lẻ lớn như 7-Eleven ở Mỹ, khiến Pop Mart phải vướng vào nhiều vụ kiện tụng tại toàn án. Không chỉ dừng ở vi phạm IP, vấn đề còn mở rộng sang khía cạnh an toàn, khi nhiều báo cáo cảnh báo Lafufu có thể gây nguy hại cho trẻ em do các chi tiết nhỏ dễ tách rời, cũng như nguy cơ chứa hàm lượng chì hoặc các hóa chất độc hại khác cao hơn mức cho phép.
Nghịch lý ở chỗ, Lafufu cũng được sản xuất tại Trung Quốc. Vì vậy, phản ứng của chính quyền diễn ra rất nhanh chóng. Gần 2 triệu Lafufu đã bị thu giữ trong năm nay thông qua các đợt đột kích nhà máy, kiểm tra thị trường và kiểm soát hải quan. Pop Mart thường là bên đầu tiên phát hiện hàng giả và báo cho cảnh sát, từ đó dẫn đến các chiến dịch trấn áp phối hợp.
Vụ Lafufu cho thấy chính quyền Trung Quốc ngày càng sẵn sàng hành động mạnh tay trước các hành vi xâm phạm IP, ít nhất là khi IP có nguồn gốc trong nước bị ảnh hưởng. Điều này phù hợp với tuyên bố của Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc xây dựng một hệ thống đổi mới dựa trên luật lệ, trong đó IP gốc là tài sản chứ không phải gánh nặng. Quan điểm này cũng được thể hiện trong một bài viết của Tân Hoa Xã phê phán hiện tượng Lafufu, cho rằng “doanh nhân và nhà sản xuất cần nhận thức rõ rằng muốn giành chiến thắng trên thị trường thì trước hết phải tôn trọng các quy tắc của đổi mới”.
Câu chuyện đồ chơi, Labubu hay Wakuku?
Dù chính phủ Trung Quốc không thể nhận công lao trực tiếp cho sự nổi tiếng toàn cầu của Pop Mart, họ vẫn tận dụng thành công của doanh nghiệp này, cùng các chiến dịch trấn áp Lafufu, như một minh chứng rằng Trung Quốc có thể tạo ra và bảo vệ một “thương hiệu IP siêu cấp”, thậm chí ví Pop Mart như một “Disney phương Đông” đang hình thành.
Thực tế, Giám đốc điều hành Pop Mart, ông Si De, đã công khai thừa nhận công ty đang học hỏi chiến lược của Disney trong việc xây dựng giá trị IP dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh mô hình blind box tiềm ẩn nhiều rủi ro và tính ngắn hạn. Pop Mart hiện đã có kế hoạch mở rộng sang các dòng sản phẩm khác, công viên chủ đề và thậm chí cả phim điện ảnh.
Tương tự như cách Pop Mart học hỏi từ Disney hay Sanrio, với những so sánh thường thấy giữa Labubu và Hello Kitty, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc khác cũng đang học theo Pop Mart. Miniso, một nhà bán lẻ có mạng lưới toàn cầu lớn hơn nhiều, với 7.900 cửa hàng trên toàn thế giới, so với 443 cửa hàng và 2.437 máy bán hàng tự động của Pop Mart, từ lâu đã dựa vào việc cấp phép IP của bên thứ ba như Disney, Sanrio hay Marvel. Tuy nhiên, Miniso hiện đang đầu tư mạnh hơn vào thiết kế và phát triển IP gốc, thể hiện qua việc ra mắt dòng đồ chơi ăn khách Wakuku.
Dù vậy, bất chấp quy mô lớn, nhiều ý kiến cho rằng Miniso có thể gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với đà vươn lên của Labubu như một biểu tượng văn hóa Trung Quốc, do Labubu sở hữu lợi thế về quảng bá người nổi tiếng và một thị trường mua đi bán lại sôi động.

IP Trung Quốc đã sẵn sàng cho thành công toàn cầu?
Vẫn còn nhiều câu hỏi xoay quanh khả năng sinh lời dài hạn của các dòng đồ chơi sưu tầm của Pop Mart, trong đó Monster chỉ là một ví dụ, cũng như về triển vọng chung của các sản phẩm văn hóa Trung Quốc dựa trên IP. Pop Mart hiện vẫn là một trường hợp khá cá biệt trong số các sản phẩm văn hóa xuất khẩu của Trung Quốc. Không giống nhiều mặt hàng Trung Quốc cạnh tranh chủ yếu dựa trên yếu tố “giá trị so với chi phí”, dòng Monster lại phụ thuộc lớn vào yếu tố cảm xúc, chính điều này đã thúc đẩy thành công của công ty.
Labubu không phải là sản phẩm văn hóa Trung Quốc duy nhất gần đây thu hút sự chú ý quốc tế. Trò chơi điện tử “Black Myth: Wukong”, các phim hoạt hình “Na Tra” và “Na Tra 2”, hay tiểu thuyết khoa học viễn tưởng “Tam thể”, được Netflix chuyển thể, đều đã tạo tiếng vang nhất định. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hơn, những hạn chế cũng bộc lộ rõ.
Khoảng 70% doanh số của “Wukong” đến từ thị trường nội địa, với phần lớn đánh giá trên nền tảng Steam được viết bằng tiếng Trung. “Na Tra 2” chỉ thu về chưa đến 3% doanh thu phòng vé từ bên ngoài Trung Quốc, còn phiên bản Netflix của “Tam thể” nhận về nhiều ý kiến trái chiều.
Cho đến nay, Labubu dường như là sản phẩm văn hóa do Trung Quốc sản xuất duy nhất xây dựng được một cộng đồng người hâm mộ thực sự toàn cầu. Đáng chú ý, búp bê này thậm chí không được tiếp thị rõ ràng là “sản phẩm Trung Quốc”, điều này phần nào hạn chế giá trị của Labubu đối với các chiến lược quyền lực mềm của Trung Quốc. Được thiết kế bởi một nghệ sĩ sinh ra tại Hồng Kông và lấy cảm hứng từ thần thoại Bắc Âu, Labubu cho thấy vai trò then chốt của việc bản địa hóa và hợp tác với nghệ sĩ nước ngoài trong chiến lược toàn cầu của Pop Mart. Trên thực tế, Miniso từ lâu cũng đã tận dụng phong cách thẩm mỹ Nhật Bản để khai thác những liên tưởng tích cực về chất lượng và hình ảnh thương hiệu Nhật.
Ở chiều ngược lại, khi nhìn ra ngoài lĩnh vực văn hóa, danh mục xuất khẩu công nghệ cao ngày càng mở rộng của Trung Quốc, đặc biệt trong các công nghệ xanh, đang chứng minh rằng “Made in China” không còn đồng nghĩa với sản xuất giá rẻ, mà còn gắn liền với đổi mới, sáng tạo và một hệ sinh thái sở hữu trí tuệ đang dần trưởng thành.
Theo thediplomat.com
Sự kiện đã trở thành diễn đàn quan trọng, nhấn mạnh vai trò của thông tin sáng chế như một “vũ khí sắc bén” để định hình chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, đặc biệt trong hai lĩnh vực trọng yếu: Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) và công nghệ đất hiếm. Cả hai đều đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào Danh mục công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, khẳng định tầm quan trọng của việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Hội thảo đã tập trung vào việc sử dụng các nền tảng phân tích thông tin sáng chế hàng đầu thế giới như LENS và WIPS.
“Đây là các nền tảng cho phép khai thác, xử lý và trực quan hóa dữ liệu sáng chế ở quy mô lớn,” ông Long nhấn mạnh. “Qua đó hỗ trợ phân tích xu hướng công nghệ, cấu trúc cạnh tranh, mức độ tập trung quyền sở hữu trí tuệ và các khoảng trống công nghệ trong từng lĩnh vực cụ thể”. Việc áp dụng phương pháp lập bản đồ bằng sáng chế vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược quốc gia như SMR và đất hiếm sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về xu hướng phát triển công nghệ trong tương lai. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách, nghiên cứu và doanh nghiệp củng cố các chiến lược phát triển công nghệ, kinh doanh và sở hữu trí tuệ.

Ảnh minh họa
Về phía đối tác Nhật Bản, ông Akira Ogawa, Chuyên gia Dự án JICA, đánh giá cao định hướng ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược của Việt Nam. Ông khẳng định việc phân tích thông tin bằng sáng chế là một công cụ hiệu quả, cần thiết phải được thực hiện từ nhiều góc độ để đưa ra những dự đoán có độ chính xác cao.
“Có một khoảng cách lớn giữa lý thuyết với thực tiễn. Kỹ năng phân tích không thể được cải thiện nếu không có quá trình thử và sai lặp đi lặp lại,” ông Ogawa chia sẻ.
Thông qua các công cụ phân tích tại hội thảo, các chuyên gia, nhà nghiên cứu và cán bộ kỹ thuật đã có cơ hội thực hành, nắm vững các nguyên tắc cơ bản của phân tích thông tin bằng sáng chế. Mục tiêu là để họ có thể tự mình thực hiện các phân tích cần thiết, nhận diện được xu hướng công nghệ và các lĩnh vực tiềm năng để đổi mới sáng tạo.
Hội thảo đã thành công trong việc trang bị cho đội ngũ chuyên môn trong nước phương pháp luận hiện đại, góp phần nâng cao năng lực phân tích và định hướng phát triển trong hai lĩnh vực nghiên cứu chiến lược: công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ và công nghệ khai thác, tuyển quặng đất hiếm. Đây là bước đi quan trọng, giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học và công nghệ, tăng cường khả năng cạnh tranh công nghệ trên toàn cầu.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Mở đợt cao điểm kiểm tra trên diện rộng
Trước những diễn biến phức tạp của tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại vào dịp cuối năm, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) đã chính thức phát động đợt cao điểm kiểm tra, giám sát thị trường dược, mỹ phẩm. Chiến dịch kéo dài từ ngày 15/12/2025 đến hết ngày 31/3/2026.
Theo đó, Sở Y tế các tỉnh, thành phố được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo 389, Công an, Hải quan và Quản lý thị trường để tổng kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nội dung kiểm tra sẽ bao phủ toàn diện từ tính pháp lý của cơ sở, giấy phép lưu hành sản phẩm đến nguồn gốc xuất xứ và hóa đơn chứng từ.
Đối với mặt hàng thuốc, lực lượng chức năng sẽ đặc biệt chú trọng vào việc duy trì các tiêu chuẩn thực hành tốt (GPs), hạn dùng và tình trạng mua bán thuốc không theo đơn. Riêng với mỹ phẩm, hồ sơ thông tin sản phẩm (PIF) và sự tương thích giữa tính năng công bố so với thực tế lưu hành sẽ là trọng tâm giám sát.

Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) đã chính thức phát động đợt cao điểm kiểm tra, giám sát thị trường dược, mỹ phẩm
“Dọn dẹp” thị trường trực tuyến – Không có vùng cấm
Một trong những điểm mới của đợt truy quét lần này là sự quyết liệt đối với kinh doanh online. Cục Quản lý Dược yêu cầu rà soát nghiêm ngặt các gian hàng trên sàn thương mại điện tử và mạng xã hội. Mọi hành vi quảng cáo sai sự thật, kinh doanh hàng xách tay không rõ nguồn gốc hoặc các sản phẩm đã có thông báo thu hồi sẽ bị xử lý nghiêm.
Bộ Y tế khẳng định quan điểm: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong việc xử lý vi phạm. Những vụ việc có dấu hiệu tội phạm, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có tổ chức sẽ bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố hình sự thay vì chỉ xử phạt hành chính thông thường.
Cấp thiết đổi mới quy định quản lý mỹ phẩm
Song song với việc kiểm tra thực địa, Bộ Y tế đang lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo Nghị định mới nhằm thay thế Nghị định 93/2016/NĐ-CP. Dự thảo này được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt trong việc siết chặt kỷ cương thị trường mỹ phẩm.
Điểm đột phá của dự thảo là cho phép doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về nội dung quảng cáo mà không cần thủ tục xác nhận từ cơ quan quản lý. Tuy nhiên, quyền tự chủ này đi kèm với chế tài nghiêm khắc nếu nội dung quảng cáo gây hiểu lầm là thuốc chữa bệnh hoặc phóng đại công dụng.
Dự thảo quy định cấm tuyệt đối việc sử dụng hình ảnh bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế hoặc cơ sở y tế để quảng cáo mỹ phẩm. Đây là biện pháp trực diện nhằm xóa bỏ tình trạng lợi dụng uy tín ngành y để trục lợi lòng tin của người tiêu dùng.
Các sản phẩm lưu hành bắt buộc phải trải qua đánh giá tính an toàn theo hướng dẫn của ASEAN, đáp ứng khắt khe về giới hạn kim loại nặng và vi sinh vật. Việc triển khai đồng bộ giữa kiểm tra thực tế và hoàn thiện hành lang pháp lý được kỳ vọng sẽ đẩy lùi vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người tiêu dùng trong mùa cao điểm mua sắm lớn nhất năm.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Một năm sau cuộc đụng độ giữa NewJeans và ILLIT, những tranh cãi xoay quanh bản quyền trong ngành K-pop vẫn chưa hạ nhiệt. Dù phán quyết gần đây của tòa án Seoul đứng về phía ADOR đã khiến các thành viên NewJeans quay trở lại công ty quản lý từng rạn nứt quan hệ, một kết luận quan trọng trong bản án lại mang ý nghĩa riêng, đó là tòa xác định ILLIT, dù có một số điểm tương đồng nhất định, nhưng không sao chép NewJeans.
Kết luận này chạm đúng vào trọng tâm của một trong những điểm gây tranh cãi gay gắt nhất trong cuộc xung đột đình đám năm ngoái giữa ADOR và cựu CEO Min Hee-jin, xoay quanh câu hỏi liệu ILLIT có sao chép tổng thể концеп, hình ảnh và vũ đạo của NewJeans hay không.
Và cuộc tranh luận mà vụ việc khơi lên vẫn tiếp tục lan rộng trong toàn ngành, nơi ranh giới giữa cảm hứng, bắt chước và xâm phạm bản quyền vẫn còn mơ hồ.

Nhóm nhạc nữ NewJeans tại Inspire Arena ở Incheon
Cáo buộc sao chép, chuyện không hiếm
Trong buổi họp báo gây chấn động vào tháng 4 năm ngoái, Min Hee-jin cáo buộc nhóm nhạc nữ ILLIT của HYBE đã sao chép NewJeans về mặt thẩm mỹ, концеп, cách quảng bá và vũ đạo.
“Vì sao các anh lại dùng vũ đạo của chúng tôi?”, Min đặt câu hỏi. “Tôi đã hỏi họ nhưng không nhận được câu trả lời. Các biên đạo của chúng tôi rất phẫn nộ. Chúng tôi không thể không lên tiếng. Họ còn đang làm hại cả ILLIT nữa.”
Nhiều biên đạo cũng lên tiếng, trong đó có giám đốc biểu diễn của NewJeans là Kim Eun-ju, người cho rằng ca khúc mới của ILLIT hồi tháng 5 chỉ đơn giản là “sao chép và dán lại”.
Những cáo buộc của Min dẫn đến hàng loạt hành động pháp lý, bao gồm vụ kiện phỉ báng và cản trở hoạt động kinh doanh do công ty quản lý của ILLIT là Belift Lab đệ trình, cùng một cuộc chiến pháp lý riêng liên quan đến hiệu lực hợp đồng độc quyền giữa các thành viên NewJeans và ADOR, vụ việc này gần đây đã kết thúc với phần thắng nghiêng về phía công ty quản lý.
Trong phán quyết mới nhất, tòa án kết luận rằng “dù có một số điểm tương đồng trong ý tưởng концеп và các bộ ảnh, nhưng những yếu tố này không đủ để xác định rằng [ILLIT] đã sao chép концеп của [NewJeans], và cũng không có thêm bằng chứng nào để ủng hộ cáo buộc đó”.
Tuy nhiên, các cuộc “fan war” vẫn tiếp diễn trên mạng. Đoạn video ghi lại màn trình diễn ca khúc “jellyous” gần đây của ILLIT tại Music Bank Global Festival hôm thứ Bảy đã lan truyền mạnh trên mạng xã hội, khiến một số người hâm mộ NewJeans tiếp tục cáo buộc nhóm này vay mượn quá nhiều từ NewJeans, viện dẫn bản phối mang hơi hướng retro cùng trang phục sặc sỡ, màu sắc rực rỡ. Ngược lại, những người bênh vực ILLIT cho rằng màn trình diễn này không có sự tương đồng thực chất nào với концеп của NewJeans, đồng thời nhấn mạnh rằng cả âm thanh lẫn phong cách hình ảnh đó chưa bao giờ là độc quyền của NewJeans, một màn tranh luận quen thuộc đã lặp lại nhiều lần suốt thời gian qua.
Những tranh chấp như vậy vốn không xa lạ trong K-pop, một thể loại âm nhạc được định hình bởi sự pha trộn ảnh hưởng và chu kỳ sản xuất nhanh, thường được ví như mô hình sản xuất dây chuyền.
Nhóm nhạc nữ thế hệ đầu Fin.K.L từng đối mặt với cáo buộc đạo nhái về mặt hình ảnh, bị cho là giống với nhóm nhạc nữ Nhật Bản Morning Musume, dù nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là sự phản ánh xu hướng thời trang phổ biến lúc bấy giờ.
Gần đây hơn, năm 2021, JYP Entertainment đã phải lên tiếng xin lỗi sau khi một thành viên Twice xuất hiện trong trang phục mang hơi hướng truyền thống, bị người hâm mộ cho là giống với các thiết kế trang phục lấy cảm hứng từ hanbok của Blackpink.
Năm 2022, nhóm nhạc nữ NMIXX bị cáo buộc sao chép thế giới quan mang chủ đề hải tặc của nhóm nhạc nam Ateez, do cùng sử dụng các hình ảnh xoay quanh hành trình và phiêu lưu.
Tuy nhiên, những vụ việc như vậy hiếm khi đi đến kết luận rõ ràng, trừ khi các công ty chủ quản nhượng bộ trước làn sóng phản ứng trên mạng. Theo luật bản quyền, các ý tưởng mang tính khái quát, chẳng hạn như phong cách thời trang hay chủ đề thẩm mỹ, thường được xem là ý tưởng chứ không phải là biểu đạt được bảo hộ. Chỉ những sản phẩm sáng tạo cụ thể như âm nhạc, ca từ hay bìa album mới đủ điều kiện được bảo vệ.

Nhóm nhạc nữ ILLIT
Bản quyền vũ đạo vẫn bỏ ngỏ
Trong khi đó, vũ đạo, một trong những điểm gây tranh cãi lớn nhất trong mâu thuẫn giữa ADOR và Min Hee-jin, lại không được đề cập trực tiếp trong phán quyết mới nhất, vốn chỉ tập trung vào tổng thể hình ảnh và концеп. Dù vậy, các biên đạo từng lên tiếng từ năm ngoái vẫn tiếp tục thúc đẩy việc công nhận mạnh mẽ hơn quyền sáng tạo của họ.
Cuối tháng 4 năm ngoái, Hiệp hội Bản quyền Biên đạo Hàn Quốc (KCCA) được thành lập, với biên đạo nổi tiếng Lia Kim, nhà sáng lập 1Million Dance Studio, giữ vai trò chủ tịch đầu tiên.
Những yêu cầu của hiệp hội bao gồm việc bắt buộc ghi danh biên đạo cho các màn trình diễn K-pop, tương tự như cách ghi tên nhạc sĩ và người viết lời, cùng với việc công nhận rõ ràng hơn quyền sở hữu tác phẩm của biên đạo.
“Hướng đi lý tưởng nhất là xây dựng một hệ thống phân chia lợi nhuận từ vũ đạo tương tự như cơ chế tiền bản quyền của các ca khúc, chẳng hạn trong các trường hợp khai thác thương mại thứ cấp”, bà Kim Min-ja, giám đốc KCCA, cho biết.
“Việc kiếm doanh thu từ các trào lưu vũ đạo lan truyền vẫn còn là mục tiêu xa. Trước mắt, ưu tiên là đảm bảo thù lao công bằng.”
Tháng 9 năm ngoái, nghị sĩ Jin Jong-oh thuộc đảng Quyền lực Nhân dân đã đề xuất một dự luật nhằm đưa vũ đạo vào danh mục tác phẩm được bảo hộ rõ ràng theo Luật Bản quyền, hiện dự luật này vẫn đang chờ xem xét tại ủy ban của Quốc hội.
Dù trên lý thuyết, vũ đạo đã được bảo vệ theo luật hiện hành, các biên đạo hiếm khi được ghi danh hoặc giữ quyền tác giả, khiến sửa đổi này mang ý nghĩa biểu tượng nhiều hơn.
Tuy vậy, đề xuất cũng vấp phải phản đối. Tháng 2, các tổ chức trong ngành âm nhạc, bao gồm Liên đoàn Quản lý Hàn Quốc (KMF), cảnh báo rằng việc trao quyền độc quyền đối với vũ đạo “có thể khiến các nhà sản xuất e ngại sử dụng các màn trình diễn vũ đạo, từ đó làm giảm lợi ích tổng thể của chính các biên đạo trong ngành”.

Luật pháp, nhận thức và fandom va chạm
Những câu hỏi về quyền sở hữu trí tuệ không chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa công ty và nghệ sĩ, mà còn lan sang văn hóa fandom, nơi các tranh chấp thường bùng nổ trước cả khi có đánh giá pháp lý.
Một ví dụ gần đây liên quan đến nhóm nhạc nam The Boyz và nhóm nhạc nữ QWER, khi hai công ty quản lý tranh cãi về sự tương đồng trong thiết kế light stick chính thức, biểu tượng cốt lõi của bản sắc fandom.
“Môi trường K-pop chịu sự giám sát và chú ý rất lớn từ công chúng, điều này khiến những xung đột như vậy đặc biệt gây tổn hại”, một nguồn tin trong ngành âm nhạc, yêu cầu giấu tên, nhận định.
Tuy nhiên, việc đặt ra các tiêu chí chung là rất khó, bởi “dù các vụ bê bối đạo nhái trông có vẻ giống nhau, nhưng mỗi trường hợp về bản chất lại hoàn toàn khác”.
Công ty quản lý của The Boyz là One Hundred Label cho biết đã yêu cầu thay đổi thiết kế sau khi phát hiện điểm tương đồng và ám chỉ khả năng khởi kiện hồi tháng 9. Đến tháng 12, người phát ngôn của công ty cho hay họ vẫn đang trao đổi với các chuyên gia pháp lý để cân nhắc phương án phản ứng.
Phía công ty của QWER lập tức phản hồi, khẳng định các cuộc tư vấn pháp lý cho thấy không có hành vi vi phạm bản quyền.
KMF sau đó đã đứng ra hòa giải, lưu ý rằng các tranh chấp về quyền sở hữu rất khó phân xử, bởi ranh giới giữa tham chiếu và đạo nhái thường mang tính chủ quan và khó xác định.
“Tranh chấp xoay quanh chiếc light stick này có thể được xem là ví dụ cho những xung đột ngày càng bộc lộ rõ nét hơn khi ngành công nghiệp trở nên tinh vi hơn”, KMF nhận định. “Để làn sóng Hallyu phát triển bền vững trong tương lai, tất cả các bên liên quan cần có cách tiếp cận có trách nhiệm và cùng nhau hoàn thiện hệ thống, thiết lập một trật tự công bằng”.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Từ dấu vết trên mạng xã hội đến hiện trường sản xuất
Thực hiện kế hoạch tăng cường đấu tranh chống hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường thương mại điện tử, Đội QLTT số 1 (Cục QLTT TP. Hà Nội) đã đưa vào tầm ngắm các hoạt động quảng bá nước giặt nhãn hiệu Power Clean trên Facebook và website. Qua rà soát, lực lượng chức năng phát hiện sản phẩm này sử dụng hình ảnh “vết loang” – một dấu hiệu nhận diện đặc trưng đã được bảo hộ độc quyền bởi Tập đoàn Unilever.
Để có cơ sở xử lý chính xác, Đội QLTT số 1 đã phối hợp chặt chẽ với chủ thể quyền và Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ để giám định sản phẩm. Ngay sau khi có kết luận khẳng định hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu, một chiến dịch kiểm tra đồng loạt từ khâu bán lẻ đến tận xưởng sản xuất đã được triển khai.
Tại điểm bán lẻ thuộc hộ kinh doanh Trần Thị Hạnh (phố Pháo Đài Láng, Đống Đa), lực lượng chức năng thu giữ 144 túi nước giặt vi phạm. Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, các trinh sát thị trường đã nhanh chóng lần theo dấu vết nguồn hàng, xác định “mắt xích” chính nằm tại Công ty Cổ phần sản xuất công nghệ cao Soon Teak Đông Nam Á, có trụ sở tại Khu đô thị Sunny Garden City (huyện Quốc Oai).

Ảnh minh họa
Quá trình đấu tranh và xác minh nghiệp vụ cho thấy quy mô sai phạm của Công ty Soon Teak Đông Nam Á là nghiêm trọng. Doanh nghiệp này không chỉ trực tiếp sản xuất mà còn đặt gia công số lượng lớn nước giặt mang nhãn hiệu xâm phạm quyền. Kết quả thẩm tra xác nhận tổng cộng 18.803 túi nước giặt đã được đưa vào lưu thông, trong đó phần lớn (18.728 túi) đã được bán ra thị trường thông qua các kênh trực tuyến, thu lợi bất chính gần 790 triệu đồng.
Bên cạnh hành vi xâm phạm nhãn hiệu, doanh nghiệp này còn lợi dụng kẽ hở của thương mại điện tử để quảng bá hàng hóa vi phạm, đồng thời lờ đi các quy định bắt buộc về việc minh bạch thông tin chủ sở hữu trên website thương mại điện tử, gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan chức năng.
Quyết liệt xử lý và thu hồi lợi nhuận bất hợp pháp
Căn cứ vào mức độ vi phạm, cơ quan chức năng đã đưa ra những hình phạt nghiêm khắc để răn đe. Trong khi hộ kinh doanh bán lẻ bị xử phạt 25 triệu đồng và buộc tiêu hủy hàng hóa, thì Công ty Soon Teak Đông Nam Á đang đối mặt với mức phạt và truy thu lớn. Đội QLTT số 1 đã hoàn tất hồ sơ, đề xuất UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính và buộc doanh nghiệp nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp với tổng số tiền lên đến hơn 1 tỷ đồng.
Vụ việc là hồi chuông cảnh báo cho các doanh nghiệp đang có ý định “mượn” danh tiếng của các nhãn hàng lớn để trục lợi. Đồng thời, đây cũng là minh chứng cho sự hiệu quả của lực lượng QLTT Hà Nội trong việc ứng dụng công nghệ, theo dõi sát sao thị trường số để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Hiện tại, lực lượng chức năng vẫn đang tiếp tục mở rộng điều tra, củng cố tài liệu để xử lý dứt điểm các bên liên quan theo đúng quy định của pháp luật.
Hương Mi
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Quan hệ đối tác kéo dài ba năm được công bố vào tuần trước được xem là bước ngoặt quan trọng trong việc Hollywood đón nhận trí tuệ nhân tạo tạo sinh, trong bối cảnh ngành công nghiệp này vẫn lo ngại về tác động của AI đối với việc làm sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ.
Theo thỏa thuận cấp phép, Sora và ChatGPT Images sẽ bắt đầu tạo video sử dụng các nhân vật Disney đã được cấp phép như Mickey Mouse, Cinderella và Mufasa, dự kiến từ đầu năm tới. Thỏa thuận không bao gồm hình ảnh, giọng nói hay diện mạo của các nghệ sĩ biểu diễn.
“Thông qua hợp tác với OpenAI, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi kể chuyện của mình bằng AI tạo sinh một cách thận trọng và có trách nhiệm, đồng thời tôn trọng và bảo vệ các nhà sáng tạo cùng tác phẩm của họ,” CEO Disney Bob Iger cho biết.
Các nghiệp đoàn Hollywood, những tổ chức đang theo dõi chặt chẽ việc mở rộng sử dụng AI tạo sinh, đã phản ứng thận trọng trước thỏa thuận này.

Các cuộc đàm phán đã bắt đầu từ lâu
Theo một nguồn tin am hiểu vấn đề, Bob Iger và CEO OpenAI Sam Altman đã bắt đầu trao đổi từ nhiều năm trước, khi hai bên thảo luận về cách thể hiện tiềm năng của AI tạo sinh khi kết hợp với các nhân vật và câu chuyện của Disney.
Trước khi ra mắt, OpenAI đã cho Disney xem trước công cụ tạo hình ảnh Sora, theo nguồn tin đề nghị giấu tên để thảo luận về các cuộc đàm phán, đồng thời cho biết Disney đánh giá OpenAI sẵn sàng tham gia đối thoại một cách xây dựng.
Ông Iger đã hé lộ một phần chiến lược này trong cuộc gọi với nhà đầu tư vào tháng 11, nói rằng AI sẽ cho phép công ty cung cấp cho người dùng Disney+ các công cụ để tạo và tiêu thụ nội dung do người dùng tạo, chủ yếu ở định dạng ngắn.
Theo thỏa thuận với OpenAI, một số video do người dùng tạo sẽ được đưa lên phát trực tuyến trên Disney+, giúp nền tảng này tận dụng sức hút ngày càng lớn của nội dung video dạng ngắn.
Tập đoàn truyền thông này cũng sẽ nhận được quyền mua thêm cổ phần của công ty đứng sau ChatGPT thông qua các chứng quyền. Hai bên sẽ sử dụng các mô hình của OpenAI để xây dựng sản phẩm và trải nghiệm khách hàng mới, bao gồm cho người đăng ký Disney+, trong khi Disney sẽ triển khai ChatGPT cho nhân viên của mình.
Thỏa thuận cũng bao gồm các biện pháp bảo vệ nhằm ngăn các nhân vật bị khắc họa trong những tình huống không phù hợp. Disney cũng dự định sử dụng các công cụ của OpenAI cho mục đích nội bộ để hỗ trợ sản xuất phim, nhằm nâng cao hiệu quả, theo nguồn tin.
Quan hệ đối tác này được công bố chỉ vài tháng sau khi Creative Artists Agency, công ty đại diện tài năng hàng đầu Hollywood, chỉ trích OpenAI vì khiến các nghệ sĩ đối mặt với “rủi ro đáng kể” thông qua Sora và đặt câu hỏi liệu các chuyên gia sáng tạo có được trả thù lao cho công việc của họ hay không.

Các họa sĩ hoạt hình lo ngại về vấn đề thù lao
Danny Lin, Chủ tịch Nghiệp đoàn Hoạt hình, cho biết vấn đề thù lao cho nghệ sĩ là mối quan tâm mà công đoàn sẽ nêu ra. Ông nói rằng dù các họa sĩ hoạt hình không sở hữu quyền đối với các nhân vật Disney, “chính chúng tôi là lý do khiến họ tồn tại và là lý do khiến họ có tiềm năng tạo ra giá trị kinh tế lớn như vậy.”
Nghiệp đoàn Biên kịch Mỹ (Writers Guild of America) cho biết sẽ làm việc với Disney để tìm hiểu mức độ lao động của các thành viên bị sử dụng trong các video do người dùng tạo.
“Thông báo của Disney với OpenAI dường như hợp thức hóa việc đánh cắp tác phẩm của chúng tôi và chuyển giao giá trị sáng tạo của chúng tôi cho một công ty công nghệ đã xây dựng hoạt động kinh doanh trên chính công sức của chúng tôi,” lãnh đạo WGA viết trong thông báo gửi tới các thành viên.
SAG-AFTRA, nghiệp đoàn đại diện cho diễn viên và người lao động trong ngành giải trí, cho biết Disney và OpenAI đã liên hệ với công đoàn để đưa ra cam kết rằng thỏa thuận sẽ đảm bảo việc sử dụng công nghệ một cách có đạo đức và có trách nhiệm.
“Cuộc đối thoại đang diễn ra phản ánh cam kết đáng kể trong việc xem xét các mối quan tâm của thành viên SAG-AFTRA đối với các biện pháp bảo vệ liên quan đến hình ảnh, diện mạo, giọng nói, trình diễn và quyền sở hữu trí tuệ nói chung,” công đoàn này cho biết trong một tuyên bố.
Tuy nhiên, nhà phân tích Ross Benes của Emarketer nhận định quyền lực của các nghiệp đoàn là có hạn và “họ khó có thể ngăn chặn được đà phát triển của truyền thông do AI tạo ra.”
Trước đó trong ngày, CNBC đưa tin Disney đã gửi thư yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm tới Google, cáo buộc công ty này xâm phạm bản quyền của Disney.
Vào tháng 6, Disney và Universal thuộc Comcast cũng đã đệ đơn kiện vi phạm bản quyền đối với công ty tạo ảnh bằng AI Midjourney, liên quan đến việc sử dụng các nhân vật nổi tiếng nhất của các hãng phim.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
Cụ thể, vào ngày 9/12 vừa qua, Đoàn kiểm tra liên ngành 389 xã An Khánh, TP Hà Nội gồm Đội Quản lý thị trường số 24, Công an xã An Khánh và Phòng Kinh tế xã An Khánh đã tiến hành kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty cổ phần dệt kim Phú Cường Thịnh tại địa chỉ số 20, ngõ 204 thôn Chùa Tổng, xã An Khánh, TP Hà Nội. Công ty do bà N.T.H làm Giám đốc.
Tại thời điểm kiểm tra, bà H đi công tác ngoài tỉnh và không có mặt làm việc. Vì vậy, ông N.P.H, chồng bà H, là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty, đã đại diện làm việc với đoàn.
Ông N.P.H xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0109804xxx, đăng ký lần đầu ngày 04/11/2021 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội cấp. Theo giấy đăng ký, trụ sở chính của công ty đặt tại số 07, ngõ 202 thôn Chùa Tổng, xã La Phù, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, nay là xã An Khánh, TP Hà Nội.
Tuy nhiên, tại thời điểm kiểm tra, đại diện doanh nghiệp chưa xuất trình được Giấy đăng ký địa điểm kinh doanh của Công ty cổ phần dệt kim Phú Cường Thịnh tại địa chỉ số 20, ngõ 204 thôn Chùa Tổng, xã An Khánh. Đây cũng là địa điểm đang diễn ra hoạt động sản xuất thực tế.
Qua kiểm tra, đoàn công tác phát hiện tại cơ sở có số lượng lớn bít tất đang trong quá trình sản xuất, mang dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu “PUMA”, “TOMMY HILFIGER” và “YONEX”. Đoàn kiểm tra đã báo cáo lãnh đạo và tiến hành tạm giữ, niêm phong toàn bộ hàng hóa, máy móc và tem mác liên quan để xác minh, làm rõ.
Cụ thể, số hàng hóa bị tạm giữ gồm 4.250 đôi bít tất mang nhãn hiệu hình và chữ “PUMA”, 4.500 đôi bít tất mang nhãn hiệu hình và chữ “TOMMY HILFIGER”, 4.250 đôi bít tất mang nhãn hiệu hình và chữ “YONEX”.
Đồng thời, cơ sở còn bày bán số lượng lớn hàng hóa do mua trôi nổi trên thị trường gồm: 500 chiếc quần lót nam “LACOSTE”; 13.000 chiếc quần lót nam “adidas”; 3.000 chiếc quần lót nam “OWEN”. Tổng giá trị hàng hóa vi phạm là 105 triệu đồng.
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn tạm giữ nguyên liệu và phương tiện phục vụ sản xuất gồm 1 bộ máy dệt kim tròn dùng để dệt tất chân, model TK-620XL, cùng 2.000 tem nhãn “YONEX”, 4.400 tem nhãn “TOMMY HILFIGER”
Hiện Đội Quản lý thị trường số 24 đang tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan, đồng thời liên hệ đại diện các chủ thể quyền để giám định, xác định hàng thật – giả. Vụ việc đang được các cơ quan chức năng tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Chính trong bối cảnh đó, các quy định mới liên quan đến việc sử dụng dữ liệu cho huấn luyện AI, theo đề xuất của Dự thảo Luật SHTT (sửa đổi) và dự thảo Luật AI đã thu hút được nhiều sự quan tâm.
Đáng chú ý, cả hai Dự thảo Luật đều đã hoặc đang đưa ra những cơ chế ngoại lệ hoặc miễn trừ trách nhiệm cho hành vi sao chép và sử dụng dữ liệu cho mục đích huấn luyện AI. Từ góc độ phát triển công nghệ, đây được coi là cách gỡ bỏ rào cản. Tuy nhiên, từ góc độ bảo vệ quyền SHTT, những quy phạm này có thể tạo ra xung đột nội tại, dẫn đến khoảng trống pháp lý và nguy cơ bị lạm dụng.

Ngoại lệ quá rộng khi cơ chế bảo hộ còn yếu
Theo quy định mới nhất tại khoản 5 Điều 7 Dự thảo Luật SHTT (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua: “Tổ chức, cá nhân được phép sử dụng văn bản và dữ liệu đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận, nhằm mục đích nghiên cứu, huấn luyện và phát triển hệ thống AI, với điều kiện: (i) không sao chép, phân phối, truyền đạt, công bố, làm tác phẩm phái sinh hoặc khai thác thương mại văn bản, dữ liệu gốc và (ii) không gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu theo quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan”.
Như vậy, Dự thảo đang đặt ra một ngoại lệ cho việc sử dụng đối tượng quyền SHTT. Tuy nhiên ngoại lệ này lại không nằm trong quy định hiện hành về các trường hợp sử dụng hợp lý, được quy định tại Điều 25 và 26. Khi được đề xuất thêm vào Điều 7 quy định về giới hạn quyền SHTT, ngoại lệ huấn luyện AI đang trở thành “ngoại lệ nguyên tắc”, cung cấp một cơ chế “siêu miễn trừ”. Quy định này dường như không phù hợp với với Công ước Berne, dễ đẩy Việt Nam vào tình huống bị khiếu nại vì không tuân thủ điều ước quốc tế.
Theo quy định hiện nay, miễn là chủ thể đáp ứng được điều kiện, họ có thể sử dụng mọi dạng dữ liệu, để nghiên cứu, huấn luyện và phát triển hệ thống AI. Trong khi đó ý chí của tác giả và chủ sở hữu quyền bị loại trừ hoàn toàn. Khi hầu hết các mô hình AI không cần tái tạo hoàn toàn dữ liệu gốc để cạnh tranh, tác giả có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị thay thế nhưng không có căn cứ để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.
Đối với điều kiện phát sinh trường hợp ngoại lệ, mâu thuẫn phát sinh khi điều luật cho phép sử dụng nhưng cấm “sao chép, phân phối, công bố, làm tác phẩm phái sinh hoặc khai thác thương mại văn bản, dữ liệu gốc”. Trên thực tế, việc huấn luyện mô hình chính là sao chép dữ liệu (token hóa, tạo cookies, cache, nhúng, lập chỉ mục). Khi pháp luật không có hướng dẫn rõ ràng, tranh luận khi soi chiếu các hoạt động này trong phạm vi “sao chép” theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật SHTT hiện hành sẽ xảy ra. Cho đến khi “sao chép” được tái định nghĩa , quy định mới sẽ mở cánh cửa để các nhà phát triển AI khai thác miễn phí quyền SHTT của người Việt.
Đối với yêu cầu không gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền SHTT, quy định lại đặt ra câu hỏi về thẩm quyền, tiêu chí đánh giá, thủ tục giám định, nghĩa vụ chứng minh… Ví dụ, khi AI không tiết lộ nguồn dữ liệu đã học, tác giả không thể chứng minh thiệt hại. Rất có thể điều luật sẽ được hướng dẫn thêm. Tuy nhiên cho đến khi có văn bản cụ thể, đây vẫn là một quy định quá mơ hồ và rủi ro cho các bên liên quan.
Do cơ chế bảo hộ – thực thi quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, việc mở ngoại lệ như Dự thảo đang làm có nguy cơ tạo khoảng trống pháp lý lớn. Trong bối cảnh chưa có tòa chuyên trách về SHTT và các tranh chấp vẫn thường được giải quyết thông qua cơ chế hành chính hơn là tố tụng, ngoại lệ huấn luyện AI trong Dự thảo Luật SHTT đang tạo ra nhiều rủi ro nhiều hơn lợi ích. Bởi lẽ, hướng quy định hiện hành dường như chỉ tạo “lối thoát” cho các nhà phát triển AI muốn khai thác dữ liệu mà không chịu ràng buộc trách nhiệm chứ không tạo ra thêm giá trị nào khác.
Dự thảo Luật AI – Đã tháo gỡ nguy cơ xung đột nhưng vẫn còn khoảng trống pháp lý
Trước đây, theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 19 dự thảo Luật AI lần thứ nhất ngày 29/9/2025: “Việc sao chép, trích xuất các tác phẩm, cơ sở dữ liệu đã được tiếp cận một cách hợp pháp nhằm mục đích duy nhất là huấn luyện AI không được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan, trừ khi Luật SHTT có quy định khác”.
Theo đó, điều luật này cũng cung cấp hai điều kiện để được miễn trừ trách nhiệm, bao gồm: (i) Áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để bảo đảm an ninh và ngăn chặn việc tái sử dụng dữ liệu cho mục đích khác và (ii) Tôn trọng quyền của chủ sở hữu trong việc từ chối không cho phép sử dụng tác phẩm của mình cho mục đích huấn luyện AI thông qua các tín hiệu máy có thể đọc được.
Như vậy, ở Dự thảo cũ, việc cung cấp một cơ chế an toàn (safe harbor) cho các nhà cung cấp mô hình AI. Ngược lại với quy định của khoản 5 Điều 7 Dự thảo Luật SHTT cấm sao chép, Điều 19 này quy định việc sao chép/trích xuất cho mục huấn luyện AI không cấu thành xâm phạm nếu nhà cung cấp đáp ứng điều kiện. Dù điều luật đã đưa ra quy định “trừ khi Luật SHTT có quy định khác”. Theo Khoản 3 Điều 6 bản dự thảo này: “Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với luật khác về cùng một vấn đề liên quan đến AI, áp dụng quy định của Luật này”
Về mặt kỹ thuật, việc xuất hiện một điều khoản phi-xâm-phạm quyền tác giả và quyền liên quan trong một đạo luật không phải luật SHTT là điều chưa từng có tiền lệ. Điều khoản ưu tiên áp dụng cũng khiến ngoại lệ AI gần như đương nhiên được chấp nhận. Hệ quả là (i) Trật tự hệ thống pháp luật bị xáo trộn, (ii) Cơ chế bảo vệ quyền SHTT bị đẩy ra ngoài rìa, và (iii) Luật AI vô hình trung can thiệp vào phạm vi điều chỉnh vốn thuộc Luật SHTT, tạo ra hiệu ứng tương tự như một luật bản quyền thứ hai đối với dữ liệu.
Riêng đối với điều kiện để đạt được ngoại lệ, việc sử dụng các thuật ngữ như “biện pháp kỹ thuật phù hợp”, “tín hiệu máy có thể đọc được” tiếp tục tạo ra các quy phạm mơ hồ và phụ thuộc nhiều vào hướng dẫn/tiêu chuẩn chi tiết về sau. Khi không có các tiêu chuẩn thống nhất, thẩm quyền đánh giá, thẩm định, điều luật tiếp tục xa rời thực tiễn và đặt các chủ thể liên quan vào tình huống tiến thoái lưỡn nan.
Đến Dự thảo số 2 ngày 22/11/2025 trình Quốc hội, các quy định ngoại lệ này đã được lược bỏ. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 36 vẫn giữ quy tắc ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn về cùng một vấn đề, dẫn đến nguy cơ các cơ chế bảo hộ của Luật SHTT rơi vào tình huống bị vô hiệu. Đồng thời, các nghĩa vụ kỹ thuật như minh bạch, gắn nhãn, giải trình (Điều 9) và nghĩa vụ của nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao (Điều 13) vẫn không được thiết kế để điều chỉnh hoạt động huấn luyện mô hình. Trong giai đoạn thu thập và sử dụng dữ liệu, gần như không có ràng buộc pháp lý nào để bảo vệ chủ thể quyền SHTT.
Cân bằng giữa khuyến khích phát triển và phòng ngừa rủi ro
Thời gian qua, sự quan tâm đối với khoản 5 Điều 7 dự thảo sửa đổi Luật SHTT đã tạo được làn sóng dư luận không nhỏ. Tuy nhiên, khi kết hợp với các quy định về SHTT tại dự thảo Luật AI, bức tranh có lẽ sẽ còn ảm đạm hơn.
Mặc dù cả hai Dự thảo đều nhằm mục tiêu tạo điều kiện phát triển AI, tiếp sức cho Việt Nam tiếp tục “vươn mình”, ngoại lệ được luật SHTT đề xuất cho huấn luyện AI đang quá rộng. Điều này vô hình trung đẩy AI phát triển theo hướng hấp thụ dữ liệu nhưng không hoàn trả giá trị. Khi Luật SHTT đã mở cửa nhưng không kèm nghĩa vụ và Luật AI bỏ qua hoạt động huấn luyện AI, thị trường AI Việt Nam sẽ phát triển theo hướng khai thác nội dung thay vì đổi mới sáng tạo
Một mặt, các quy định này đẩy Việt Nam trở thành “mỏ dữ liệu” (data mine) cho các nhà phát triển AI nước ngoài. Trong khi đó dữ liệu nước ngoài lại thường bị khóa bởi hợp đồng, khiến mô hình Việt Nam không thể thu thập. Lâu dần, các nhà phát triển AI nội địa sẽ dần bị đào thải khỏi thị trường. Mặt khác, khi người sáng tạo bị cạnh tranh bởi chính nội dung của họ, động lực sáng tạo sẽ không còn. Người dùng thì sẽ dần quen với nội dung mô phỏng được tạo bởi AI, chất lượng thấp nhưng giá rẻ. Đây là điểm khởi đầu cho các xói mòn sâu hơn trong hệ sinh thái sáng tạo, mất cân bằng dữ liệu, và mất chủ quyền văn hóa – công nghệ trong kỷ nguyên AI tổng quát.
Đối diện với các thách thức đặt ra khi xem xét vấn đề bảo hộ quyền SHTT trong kỷ nguyên AI và tham vọng của quốc gia trong cuộc đua AI toàn cầu, đã đến lúc cần chuyển trọng tâm sang tìm kiếm điểm cân bằng giữa khuyến khích phát triển và phòng ngừa rủi ro, giữa đổi mới và an toàn.
Theo đó, khuyến khích phát triển AI không có nghĩa là phải hy sinh quyền SHTT. Điều quan trọng là người làm luật phải hiểu được cơ chế hoạt động của các mô hình AI và mục tiêu của bảo hộ quyền SHTT. Về mặt nguyên tắc, các quy định của Luật SHTT cần được ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột pháp luật. Điều này rất quan trọng vì Luật SHTT mới là luật chuyên ngành trực tiếp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền SHTT.
Soi chiếu ở thị trường Việt Nam, có lẽ chúng ta chưa đủ điều kiện để đưa ngoại lệ huấn luyện AI vào Luật SHTT. Khoản 5 nên được lược bỏ khỏi quy định tại Điều 7. Trong trường hợp muốn giữ ngoại lệ về huấn luyện AI, có thể cân nhắc chuyển nội dung này xuống các Điều 25 và 26 nhưng phải tham khảo mô hình các nước để quy định với phạm vi hẹp hơn, cụ thể hơn, như chỉ áp dụng cho nghiên cứu phát triển mô hình AI thử nghiệm và cam kết phi thương mại… Phải cực kỳ cẩn thận để tránh vi phạm điều ước quốc tế về SHTT.
Tương tự, đối với Luật AI, mặc dù Dự thảo mới nhất đã xử lý được nguy cơ xung đột trực tiếp với Luật SHTT, nhưng không đưa ra bất kỳ cơ chế thực chất nào để bảo đảm quyền SHTT trong bối cảnh huấn luyện AI. Vẫn còn một khoảng trống lập pháp rất lớn, đặc biệt liên quan đến minh bạch dữ liệu, công cụ quản trị quyền, trách nhiệm đối với sản phẩm AI và tiêu chuẩn lưu giữ nguồn dữ liệu. Chỉ khi hai đạo luật được thiết kế theo hướng bảo đảm quyền SHTT trước, thúc đẩy AI sau, Việt Nam mới đạt được cân bằng giữa phát triển và bảo vệ hệ sinh thái sáng tạo.
Riêng đối với mục tiêu kép trong phát triển AI, cần làm rõ rằng việc khai thác dữ liệu trong vận hành mô hình AI là điều không thể tránh khỏi. Nói cách khác, nguy cơ không đến từ việc luật SHTT cho phép AI sử dụng dữ liệu mà đến từ việc tạo ra quy định mở quá rộng nhưng không đi kèm công cụ bảo vệ thực chất. Việc đặt quyền SHTT làm nền tảng không làm chậm đổi mới. Ngược lại, đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam phát triển AI bền vững và có chủ quyền.
Đáng lưu ý, khi thị trường SHTT còn phân mảnh, Việt Nam vẫn đang thiếu các tổ chức đại diện tập thể đủ năng lực để thương lượng và quản lý dữ liệu ở quy mô lớn. Chúng ta cũng cũng chưa có hạ tầng kỹ thuật để truy vết, đo lường hay định lượng mức độ sử dụng tác phẩm trong quá trình huấn luyện, một hoạt động vốn mang tính “hộp đen”.
Khi chưa có cơ chế định giá và biểu giá thống nhất, việc cấp phép đòi hỏi sự tham gia của các chuyên gia, làm tăng chi phí giao dịch. Quan trọng hơn, ngay cả khi đã cấp phép, tác giả và chủ sở hữu quyền vẫn không thể kiểm soát hoặc đánh giá tác động của việc mô phỏng phong cách và khai thác giá trị từ tác phẩm của họ. Do đó, chỉ dựa vào cơ chế cấp phép (licensing) trong luật SHTT có lẽ không khả thi.
Một hướng tiếp cận cân bằng, kết hợp giải pháp kỹ thuật, pháp lý và kinh tế sẽ có lợi hơn. Cụ thể, các cơ chế nên được bổ sung vào Luật AI bao gồm: (i) Kiểm soát bằng biện pháp kỹ thuật như ban hành tiêu chuẩn tín hiệu từ chối sử dụng dữ liệu; (i) Yêu cầu các mô hình minh bạch nguồn dữ liệu, lịch sử thu thập dữ liệu.., trong huấn luyện AI và (iii) Xây dựng cơ chế bồi hoàn tập thể thông qua việc thu phí từ mô hình AI thương mại và phân bổ lại cho cộng đồng sáng tạo. Những quy định này không những khả thi, mà còn giúp hướng dẫn các mô hình AI hoạt động hiệu quả, tuân thủ tại Việt Nam.
Mặc dù có ý kiến lo ngại rằng, việc đặt ra nghĩa vụ tuân thủ nghiêm ngặt có thể kìm hãm đổi mới sáng tạo, các nghiên cứu học thuật và bằng chứng thực nghiệm cho thấy các thị trường công nghệ mới nổi thường phản ứng theo cùng một quy luật. Khi khung pháp lý rõ ràng và ổn định, niềm tin của thị trường được củng cố thay vì bị suy giảm. Điều này gợi mở một bài học quan trọng cho bối cảnh AI.
Đối với Việt Nam, việc thu hút và phát triển một hệ sinh thái AI bền vững không phụ thuộc vào việc nới lỏng tối đa nghĩa vụ, mà ở khả năng xây dựng một môi trường nơi các doanh nghiệp minh bạch, tuân thủ và có trách nhiệm được khuyến khích phát triển. Để bứt phá trong cuộc đua toàn cầu, Việt Nam không cần mạo hiểm với những thí nghiệm pháp lý quá táo bạo vốn tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Điều cần thiết hơn là một khuôn khổ pháp luật ổn định, có thể dự đoán và bảo đảm an toàn cho tất cả chủ thể liên quan.
Nguyễn Ngọc Phương Hồng
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Điểm đáng chú ý và là định hướng xuyên suốt của dự thảo lần này là xây dựng một chính sách linh hoạt, không còn ấn định “biểu mức cứng” tiền bản quyền nhằm phù hợp hơn với thực tiễn khai thác, sử dụng tác phẩm, đặc biệt trong môi trường số đang thay đổi nhanh chóng.
Sau khi tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, ban soạn thảo đã tiếp thu 86 ý kiến, góp ý, phản biện xã hội. Một trong những vấn đề trọng tâm được đặt ra là việc xác định tiền bản quyền đối với các tác phẩm do Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ. Viện Phim Việt Nam bày tỏ lo ngại về việc dự thảo quy định cơ quan đại diện Nhà nước thu tiền bản quyền theo thỏa thuận bằng văn bản với bên khai thác, sử dụng tác phẩm, nhưng lại thiếu căn cứ biểu mức cụ thể.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) đang đẩy nhanh quá trình hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực: Điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản
Giải trình về vấn đề này, Bộ VH,TT&DL nhấn mạnh quyết định không ấn định biểu mức cứng là để tuân thủ nguyên tắc xác định tiền bản quyền theo Luật Sở hữu trí tuệ, tức là phải căn cứ vào mục đích, phạm vi khai thác, thời lượng sử dụng, doanh thu, lợi nhuận và điều kiện kinh tế – xã hội. Các tác phẩm do Nhà nước đầu tư có giá trị nghệ thuật, giáo dục, thương mại rất khác nhau, và việc áp một biểu mức cứng sẽ không phù hợp với thực tiễn, có thể dẫn đến thất thoát tài sản công hoặc cản trở khai thác thương mại, đặc biệt đối với những trường hợp phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền phi thương mại. Hơn nữa, biểu mức cứng dễ bị lạc hậu, khó thích ứng với những thay đổi trong môi trường khai thác số.
Ban soạn thảo cam kết dự thảo đã cố gắng quy định các tiêu chí, bảng biểu và phân chia trường hợp cụ thể để xác định tiền bản quyền phù hợp trong từng lĩnh vực.
Nhằm nâng cao tính minh bạch, Báo Lao động Thủ đô góp ý về việc bổ sung các tiêu chí cụ thể hơn để làm căn cứ xác định tiền bản quyền, bao gồm mức độ sáng tạo, tính độc lập, giá trị sử dụng, thời lượng/dung lượng tác phẩm và phạm vi khai thác. Ban soạn thảo cho biết đã tiếp thu ý kiến và sẽ rà soát, bổ sung thêm một số tiêu chí làm căn cứ thỏa thuận, bảo đảm gắn liền với thực tiễn khai thác, sử dụng.
Bên cạnh đó, nhằm tạo động lực sáng tạo, Sở VH, TT&DL Hải Phòng đề xuất mở rộng đối tượng hưởng chế độ tiền bản quyền khuyến khích đối với các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc thù của địa phương như Xẩm, Ca trù. Ban soạn thảo đã tiếp thu và mở rộng quy định tại khoản 4 Điều 3 của dự thảo, bao gồm: Tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; tác phẩm thuộc loại hình giao hưởng, opera, kịch múa (ba lê), xiếc; tác phẩm thuộc thể loại phóng sự điều tra và tác phẩm dành cho người khuyết tật.
Đáng chú ý, dự thảo còn bổ sung quy định về tiền bản quyền khuyến khích trong giai đoạn khai thác, sử dụng mà có lợi nhuận. Mức tiền bản quyền khuyến khích này được đề xuất thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên nhưng tổng số không quá 10% lợi nhuận thu được. Quy định này nhằm tạo động lực vật chất và tinh thần cho các tác giả, khuyến khích họ tiếp tục sáng tạo các tác phẩm chất lượng cao, có khả năng khai thác thương mại, đồng thời đảm bảo không làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước.
Về vấn đề chi trả nhuận bút, Bộ VH, TT&DL đã chỉnh sửa dự thảo và tách quy định về tiền bản quyền thành hai giai đoạn rõ ràng: sáng tạo tác phẩm và sử dụng tác phẩm để xuất bản, qua đó giải quyết các vướng mắc tồn tại trong các Nghị định cũ. Dự thảo Nghị định mới gồm 7 chương, 21 điều, dự kiến sẽ thay thế hai Nghị định hiện hành để thống nhất quản lý và sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước trong lĩnh vực quyền tác giả.
Nguồn: sohuutritue.net.vn
