Cơ sở pháp lý của bảo hộ SHTT trong thương mại quốc tế tại Việt Nam là sự kết hợp giữa Hiệp định thương mại TRIPS của WTO và bộ luật Sở hữu trí tuệ ra đời năm 2005 và sửa đổi vào các năm 2009, 2019 và 2022.
-
Hiệp định thương mại TRIPS của WTO:
1.1, Hiệp định TRIPS – Thỏa thuận đa phương về sở hữu trí tuệ cho đến hiện nay
Trong mối tương quan với các thỏa thuận quốc tế khác về sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS được coi là toàn diện nhất xuất phát từ những đặc điểm sau đây của Hiệp định: Trước hết nó là kết quả của sự kết hợp một số công ước quốc tế ra đời trước đó. Không những vậy, nó còn thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu trong thời hạn cụ thể cho hầu hết các đối tượng sở hữu trí tuệ, đó là quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế (bao gồm giống cây trồng), thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật. Nó chứa đựng những quy định mở nhưng cũng đồng thời thiết lập những quy định thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ nhất, Hiệp định TRIPS là kết quả của sự kết hợp những điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Những điều ước quốc tế này là Công ước Paris, Công ước Bern, Công ước Rome, Công ước Washington. Quy định của những điều ước quốc tế này có hiệu lực bắt buộc thậm chí đối với những quốc gia chưa phê chuẩn điều ước, ngoại trừ Công ước Rome có hiệu lực bắt buộc với những nước đã là thành viên của Công ước. Sự kết hợp của các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ nêu trên trong Hiệp định TRIPS được xem xét và giải thích trong khuôn khổ Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong các vụ như US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club), EC-Bananas (Điều 22.6) (Ecuador),.. Đặc biệt, trong vụ US-Section 211 Appropriations Act (US-Havana Club), Cơ quan phúc thẩm chỉ ra rằng các nước thành viên có nghĩa vụ bảo hộ tên thương mại theo Điều 8 Công ước Paris (1967) bởi vì quy định này đã được chuyển tải vào Điều 2 Hiệp định TRIPS.
Thứ hai, Hiệp định TRIPS thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu đối với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho tất cả các Thành viên WTO bất kể mức độ phát triển. Đối với mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS thiết lập những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên phải tuân thủ. Nội dung chính của những tiêu chuẩn này là đối tượng được bảo hộ, đối tượng không được bảo hộ, quyền (bao gồm thời hạn bảo hộ tối thiểu), những trường hợp ngoại lệ của những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu. Những tiêu chuẩn này được thể hiện trong Hiệp định TRIPS dưới hai dạng. Trước hết, Hiệp định TRIPS đòi hỏi các Thành viên WTO tuân thủ những quy định cơ bản, quan trọng của Công ước Paris và Công ước Berne đã được chuyển tải vào Hiệp định TRIPS. Hơn nữa, Hiệp định TRIPS quy định thêm một số nghĩa vụ cho các Thành viên WTO mà những nghĩa vụ này không quy định trong Công ước Paris và Công ước Berne. Đồng thời các Thành viên WTO có nghĩa vụ tuân thủ và áp dụng các tiêu chuẩn bảo hộ do Hiệp định TRIPS thiết lập.
Thứ ba, Hiệp định TRIPS trao cho các Thành viên WTO quyền tự quyết nhất định. Bên cạnh những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, Hiệp định TRIPS giành quyền tự quyết cho các Thành viên trong một số vấn đề nhằm giúp các nước thiết lập tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo chính sách của các nước này trên cơ sở các quy định tuỳ nghi
Cuối cùng, lần đầu tiên Hiệp định TRIPS thiết lập một cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả. Một trong những khác biệt lớn nhất giữa Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ được ban hành trước Hiệp định là: Hiệp định bao gồm các quy định chi tiết hơn nhằm đảm bảo thực thi những cam kết của Hiệp định. Những tranh chấp sở hữu trí tuệ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPS có thể được giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau như dân sự, hành chính, biện pháp tạm thời, biện pháp kiểm soát biên giới và biện pháp hình sự.Những tranh chấp phát sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPS được giải quyết theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Tức là, về nguyên tắc, các nguyên tắc của WTO được quy định trong GATT cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được áp dụng.
Với những đổi mới vừa nêu trên, cho đến nay, Hiệp định TRIPS được đánh giá là thỏa thuận đa phương về sở hữu trí tuệ toàn diện nhất. Hiệp định là sự củng cố có ý nghĩa quan trọng nhất đối với những tiêu chuẩn toàn cầu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
1.2 Phạm vi bảo hộ của Hiệp định TRIPS:
1.2.1, Quyền tác giả và quyền liên quan:
1.2.1.1, Quyền tác giả:
Hiệp định TRIPS khẳng định phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm sự thể hiện và không bao gồm các ý tưởng, trình tự, phương pháp tính hoặc các khái niệm toán học (Điều 9.2). Các chương trình máy tính, dù dưới dạng mã nguồn hay mã máy, đều phải được bảo hộ quyền tác giả như những tác phẩm văn học (Điều 10.1). Các cơ sở dữ liệu, bộ sư tập dữ liệu hoặc tư liệu khác đều phải được bảo hộ quyền tác giả thậm chí cơ sở dữ liệu chứa đựng dữ liệu không được bảo hộ quyền tác giả (Điều 10.2).
Theo quy định tại Điều 12, nếu thời hạn bảo hộ tác phẩm (ngoại trừ đối với tác phẩm nhiếp ảnh và tác phẩm nghệ thuật ứng dụng) không được tính theo đời người, thời hạn đó không được dưới 50 năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được công bố một cách hợp pháp, hoặc 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được tạo ra nếu tác phẩm không được công bố một cách hợp pháp trong vòng 50 năm từ ngày tạo ra tác phẩm. Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên WTO giới hạn những hạn chế và ngoại lệ đối với các độc quyền trong những trường hợp đặc biệt nhất định nhưng với điều kiện không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm tổn hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ thể nắm giữ quyền (Điều 13). Trong vụ việc US- Section 110(5) Copyright Act, Ban hội thẩm đã giải thích Điều 13 Hiệp định TRIPS, cụ thể về các nội dung: phạm vi, mối quan hệ với các quy định khác và điều kiện áp dụng.
1.2.1.2, Quyền liên quan:
Hiệp định TRIPS bao gồm những quy định về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh, truyền hình. Theo Hiệp định, người biểu diễn có quyền ngăn cấm ghi thu, lưu định cuộc biểu diễn bằng phương tiện ghi âm. Quyền ghi thu, lưu định của người biểu diễn chỉ liên quan đến âm thanh chứ không liên quan đến cả âm thanh và hình ảnh. Người biểu diễn còn có quyền ngăn cấm tái tạo, nhân bản bản ghi âm. Người biểu diễn cũng có quyền ngăn cấm phát qua phương tiện vô tuyến và truyền cho công chúng buổi biểu diễn trực tiếp của họ (Điều 14.1). Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên WTO cho phép nhà sản xuất bản ghi âm độc quyền sao chép các bản ghi âm của họ (Điều 14.2). Thêm vào đó, theo Điều 14.4, nhà sản xuất bản ghi âm còn có độc quyền cho thuê bản ghi âm. Các tổ chức phát thanh, truyền hình phải có quyền ngăn cấm các hành vi sau đây nếu thực hiện mà không được họ cho phép: ghi, sao chép bản ghi, phát lại qua phương tiện vô tuyến chương trình, cũng như truyền hình cho công chúng các chương trình (Điều 14.3).
Thời hạn bảo hộ người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm ít nhất là 50 năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà việc ghi âm hoặc buổi biểu diễn được tiến hành và thời hạn bảo hộ tổ chức phát sóng ít nhất là 20 năm tính khi kết thúc năm dương lịch mà chương trình phát thanh, truyền hình được thực hiện (Điều 14.5). Hiệp định TRIPS cho phép các nước thành viên WTO quy định về các điều kiện, hạn chế, ngoại lệ và bảo lưu đối với những quyền được quy định cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát thanh, truyền hình trong phạm vi quy định của Công ước Rome (Điều 14.6.)
1.2.2, Nhãn hiệu:
Hiệp định TRIPS quy định rất rộng về phạm vi các dấu hiệu có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, đó là bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, bao gồm dấu hiệu nhìn thấy được (như các chữ cái, các chữ số, các yếu tố hình họa) và dấu hiệu không nhìn thấy được (như âm thanh, mùi, vị) có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể được đăng ký làm nhãn hiệu (Điều 15.1). Các nước thành viên WTO có thể quy định khả năng được đăng ký phụ thuộc vào “tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng” khi bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng.
Theo quy định tại Điều 17, các Thành viên WTO có thể quy định một số ngoại lệ đối với các quyền đã quy định cho chủ sở hữu nhãn hiệu, chẳng hạn như sử dụng lành mạnh các thuật ngữ mang tính chất mô tả, với điều kiện những ngoại lệ đó không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu và của bên thứ bên. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu cho lần đầu đăng ký đầu tiên và mỗi lần gia hạn ít nhất là 07 năm. Số lần gia hạn hiệu lực đăng ký nhãn hiệu không bị giới hạn (Điều 18).
Về yêu cầu sử dụng nhãn hiệu, Hiệp định TRIPS quy định như sau: chỉ được hủy bỏ một nhãn hiệu trên cơ sở không sử dụng nếu việc không sử dụng diễn ra ít nhất ba năm liên tục, trừ trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra những lý do chính đáng cản trở việc sử dụng nhãn hiệu. Các trường hợp không sử dụng nhãn hiệu không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu nhãn hiệu, chẳng hạn việc hạn chế nhập khẩu hoặc những hạn chế khác của chính phủ, được coi là lý do chính đáng cho việc không sử dụng nhãn hiệu. Việc người khác sử dụng nhãn hiệu dưới sự kiểm soát của chủ sở hữu nhãn hiệu phải được công nhận là sử dụng nhãn hiệu nhằm duy trì hiệu lực đăng ký nhãn hiệu (Điều 19)
1.2.3, Chỉ dẫn địa lý:
Định nghĩa chỉ dẫn địa lý được đưa ra tại Điều 22.1 Hiệp định TRIPS. Theo đó, “chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước Thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định.” Hiệp định yêu cầu các Thành viên WTO cung cấp các phương tiện pháp lý để ngăn chặn việc sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn cho công chúng về nguồn gốc địa lý của hàng hóa và việc sử dụng cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo nghĩa của Điều 10bis Công ước Paris (Điều 22.2).
Mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được đề cập tại Điều 22.3. Cụ thể, phải từ chối đăng ký nhãn hiệu hoặc hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu đã đăng ký theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu của các bên liên quan, nếu nhãn hiệu sử dụng chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn cho công chúng về xuất xứ thực của hàng hóa.
Cần lưu ý rằng Hiệp định TRIPS cung cấp sự bảo hộ đặc biệt đối với các chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang và rượu mạnh (Điều 23). Theo đó, các Thành viên WTO phải cung cấp những biện pháp pháp lý để ngăn ngừa việc sử dụng một chỉ dẫn địa lý của rượu vang cho những loại rượu vang không bắt nguồn từ lãnh thổ tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó. Quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp công chúng không nhầm lẫn, không cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh và nguồn gốc thực sự của hàng hóa được chỉ ra hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng gắn với các từ như “loại”, “kiểu”, “dạng”, “phỏng theo” hoặc tương tự như vậy. Việc bảo hộ tương tự được áp dụng cho rượu mạnh và cho nhãn hiệu. Các trường hợp ngoại lệ đối với bảo hộ chỉ dẫn địa lý được quy định tại Điều 24.
1.2.4, Kiểu dáng công nghiệp:
Hiệp định TRIPS yêu cầu các Thành viên WTO bảo hộ các kiểu dáng công nghiệp mới hoặc nguyên gốc được tạo ra một cách độc lập và sự bảo hộ đó không áp dụng cho những kiểu dáng công nghiệp chủ yếu do đặc tính kỹ thuật và chức năng quyết định (Điều 25.1).
Xuất phát từ mối liên hệ không thể phủ nhận giữa kiểu dáng công nghiệp và ngành công nghiệp dệt, thời gian tồn tại ngắn của những kiểu dáng mới trong lĩnh vực dệt, Hiệp định TRIPS bao gồm một quy định riêng về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho hàng dệt. “Bảo hộ đối với các kiểu dáng hàng dệt, đặc biệt là yêu cầu về lệ phí, xét nghiệm hoặc công bố, không làm giảm một cách bất hợp lý cơ hội tìm kiếm và đạt được sự bảo hộ đó. Các Thành viên được tự do lựa chọn áp dụng pháp luật kiểu dáng công nghiệp hoặc pháp luật bản quyền để thực hiện nghĩa vụ này” (Điều 25.2).
Điều 26.1 yêu cầu các Thành viên WTO trao cho chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp quyền ngăn cấm những người không được sự đồng ý của mình sản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc thể hiện một kiểu dáng là bản sao, hoặc về cơ bản là bản sao, của kiểu dáng đã được bảo hộ, nếu các hành vi này nhằm mục đích thương mại. Các Thành viên được phép quy định các ngoại lệ đối với việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp với điều kiện các ngoại lệ đó không mâu thuẫn bất hợp lý với việc khai thác bình thường kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ và không làm tổn hại một cách bất hợp lý lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ, trong trường hợp này cần xem xét cả lợi ích của các bên thứ ba (Điều 26.2). Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp tối thiểu là 10 năm (Điều 26.3).
1.2.5, Sáng chế:
Hiệp định TRIPS đòi hỏi các Thành viên bảo hộ sáng chế cho sản phẩm hoặc quy trình thuộc mọi lĩnh vực công nghệ với điều kiện sản phẩm hoặc quy trình có tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp (Điều 27.1). Có thể loại trừ không cấp bằng độc quyền sáng chế trong ba trường hợp. Thứ nhất, đối với những sáng chế trái ngược với trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội; kể cả những sáng chế gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường (Điều 27.2). Thứ hai, các Thành viên có thể không cấp bằng độc quyền sáng chế cho các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật (Điều 27.3(a)). Thứ ba, các Thành viên có thể không cấp bằng độc quyền sáng chế cho thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, bất kỳ nước nào không bảo hộ giống cây trồng theo hệ thống sáng chế đều phải quy định một hệ thống bảo hộ riêng hữu hiệu đối với giống cây trồng (Điều 27.3(b)).
Chủ sở hữu sáng chế có quyền sản xuất, sử dụng, chào hàng, bán sản phẩm và nhập khẩu sản phẩm để thực hiện những mục đích nêu trên. Nếu sáng chế là một quy trình, chủ sở hữu sáng chế không chỉ có quyền đối với quy trình mà còn có quyền đối với sản phẩm tạo ra trực tiếp bằng quy trình đó. Chủ sở hữu sáng chế cũng có quyền chuyển nhượng, để lại thừa kế quyền đối với sáng chế và giao kết các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (Điều 28). Các Thành viên WTO có thể quy định những ngoại lệ đối với các quyền nêu trên, với điều kiện những ngoại lệ đó không mâu thuẫn bất hợp lý với việc khai thác bình thường sáng chế và không gây tổn hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba (Điều 30). Trong vụ Canada-Pharmaceutical Patents, Ban hội thẩm đã làm rõ các quyền chủ sở hữu sáng chế được quy định tại Điều 28 và những ngoại lệ đối với các quyền này được quy định tại Điều 30.
Thời hạn bảo hộ sáng chế không được ngắn hơn 20 năm tính từ ngày nộp đơn (Điều 33). Trong vụ Canada-Term of Patent Protection,Cơ quan phúc thẩm kết luận rằng: thời hạn bảo hộ sáng chế là 17 năm (tính từ ngày cấp văn bằng bảo hộ) cho những đơn đăng ký sáng chế được nộp trước ngày 01 tháng 10 năm 1989 và thường kết thúc trước 20 năm tính từ ngày nộp đơn theo quy định tại Phần 45 Đạo luật Sáng chế Canada không phù hợp với quy định tại Điều 33 Hiệp định TRIPS.
Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (li-xăng bắt buộc) hoặc sử dụng sáng chế do Chính phủ thực hiện mà không được phép của chủ thể nắm giữ quyền được thừa nhận nhưng với những điều kiện nhất định nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ thể nắm giữ quyền (Điều 31). Điều kiện áp dụng bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế được giảm nhẹ nhằm xử lý những thực tế chống cạnh tranh. Các điều kiện áp dụng này phải được xem xét trong mối quan hệ với các quy định liên quan tại Điều 27.1 của Hiệp định TRIPS.
1.2.6, Thiết kế bố trí mạch tích hợp:
Theo Hiệp định TRIPS, việc bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp dựa trên các quy định của Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp (Điều 35) và một số quy định bổ sung của Hiệp định TRIPS (Điều 36 đến Điều 38). Trong đó, Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp bao gồm định nghĩa “mạch tích hợp” và “thiết kế bố trí”, các điều kiện bảo hộ, các độc quyền, những giới hạn và khai thác, đăng ký, mở thiết kế bố trí mạch tích hợp.Các quy định về thiết kế bố trí mạch tích hợp trong Hiệp định TRIPS bổ sung bốn vấn đề quan trọng đáng kể cho Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp. Đó là khả năng bảo hộ sản phẩm chứa thiết kế bố trí bất hợp pháp (Điều 36); xử lý người vi phạm không có lỗi, đó là người thực hiện hành vi nhập khẩu, bán hoặc phân phối dưới hình thức khác nhằm mục đích thương mại mạch tích hợp chứa thiết kế bố trí bị sao chép bất hợp pháp hoặc bất kỳ sản phẩm nào chứa mạch hợp như vậy nếu tại thời điểm tiếp nhận mạch tích hợp hoặc sản phẩm chứa mạch tích hợp đó mà không biết hoặc không có căn cứ hợp lý để biết rằng trong đó chứa thiết kế bố trí bị sao chép bất hợp lý (Điều 37.1); áp dụng các quy định tại Điều 31 Hiệp định TRIPS đối với chuyển giao không tự nguyện quyền sử dụng thiết kế bố trí hoặc sử dụng thiết kế bố trí do Chính phủ thực hiện mà không được phép của chủ thể nắm giữ quyền, thay cho các quy định về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng thiết kế bố trí (li-xăng bắt buộc) trong Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp (Điều 37.2).
1.2.7, Bí mật kinh doanh:
Khác với sáu đối tượng sở hữu trí tuệ đã đề cập ở trên, Hiệp định TRIPS chỉ rõ rằng việc bảo hộ thông tin bí mật nhằm bảo đảm “chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu hiệu” (Điều 39.1.). Bên cạnh đó, Hiệp định bao gồm định nghĩa “thông tin bí mật” tại Điều 39.2. Theo quy định này, thông tin này phải có tính chất bí mật, có giá trị thương mại vì có tính chất bí mật, được giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý. Hiệp định TRIPS cũng quy định về dữ liệu thử nghiệm và các dữ liệu bí mật khác trong trường hợp phải nộp dữ liệu theo yêu cầu của Chính phủ để được phép tiếp thị dược phẩm hoặc các sản phẩm hóa nông có chứa những thành phần hóa học mới (Điều 39.3). Trong trường hợp như vậy, các Thành viên WTO “ phải bảo hộ để các dữ liệu đó không bị sử dụng trong thương mại một cách không lành mạnh …và không bị tiết lộ, trừ trường hợp cần bảo vệ công chúng hoặc trừ khi áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm các dữ liệu đó không bị sử dụng trong thương mại một cách không lành mạnh.”
-
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Bổ sung năm 2009)
Một trong những cơ sở pháp lí để bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ hiện nay là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022. Luật sở hữu trí tuệ là văn bản quy phạm pháp luật được nước ta ban hành nhằm mục đích bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ cho các cá nhân, tổ chức sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ. Luật sở hữu trí tuệ quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó cũng như các chế tài đối với các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo vệ bao gồm các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm:
“ 1.Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
- Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
- Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.”
Dựa trên Điều 3, ta có thể thấy đối tượng điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ là các quan hệ sở hữu trí tuệ, các quan hệ phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ, các quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng tức là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân liên quan đến việc tạo ra, xác lập, sử dụng, định đoạt và bảo vệ quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ (các đối tượng đã nêu trên).
- Nghị định 22/2018/NA-CP:
Ngày 23/02/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (Luật sở hữu trí tuệ) về quyền tác giả, quyền liên quan.
Nghị định quy định rõ về khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình. Cụ thể, tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan. Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể thỏa thuận, thống nhất, ủy quyền đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thu được do các tổ chức này tự thỏa thuận.
Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ủy quyền có trách nhiệm xây dựng danh mục hội viên, tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của hội viên và chịu trách nhiệm khi ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền đại diện đàm phán thỏa thuận, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất. Nghị định cũng quy định thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất. Theo đó, việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thực hiện theo quy định tại Điều lệ hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan và văn bản ủy quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất. Trong trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể được ủy quyền đại diện cho một quyền, nhóm quyền cụ thể, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền theo Điều lệ và văn bản ủy quyền.
TỔNG KẾT:
Qua đó, ta có thể thấy trong thương mại quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò hết sức quan trọng và ngược lại. Do đó, sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế có vai trò tác động qua lại lẫn nhau. Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ tạo nên giá trị sản phẩm, dịch vụ là đối tượng giao dịch trong thương mại quốc tế. Các sản phẩm và dịch vụ này được sản xuất, xây dựng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ và giấy phép của việc thực hiện chuyển giao quyền. Chẳng hạn như âm nhạc, hội hoạ,… đều có thể mua bán, cung ứng ngoài phạm vi biên giới quốc gia, gọi là thị trường thương mại quốc tế. Chính vì vậy, sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng khi trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của giá trị giao dịch trong thương mại quốc tế.
Bài viết do thực tập sinh Trần Vy Khanh –tại công ty Luật WINCO tổng hợp.
Các phần khác của bài viết: phần 1, phần 2
-
Quyền tác giả:
1.1 Định nghĩa và nội dung của quyền tác giả:
Trong pháp luật quốc tế, khái niệm về quyền tác giả đã quy định những trường hợp cho phép và cấm người khác sử dụng tác phẩm, phổ biến tác phẩm của tác giả. Hệ thống pháp luật dân sự bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả. Các nước theo hệ thống luật án lệ sử dụng khái niệm bản quyền vì muốn nhấn mạnh đến quyền thương mại của tác giả, của chủ sở hữu tác phẩm. Ở Việt Nam, khái niệm về quyền tác giả cũng được biết đến trước năm 1945. Theo Khoản 2, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Hay nói các khác quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền tác giả của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm.
Về quyền tác giả, Điều 738 Bộ luật dân sự và Điều 19, 20 Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm.
Trước hết, quyền nhân thân đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm. Cũng như tên gọi của nó, quyền nhân thân về bản chất là các quyền luôn gắn liền với các chủ thể nhất định mà không dịch chuyển được. Tuy nhiên, trong đó có những quyền tuy được xác định là quyền nhân thân nhưng nó vốn dĩ là cơ sở để chủ thể có các quyền đó thực hiện các quyền khác về tài sản. Và vì thế, muốn thực hiện các quyền về tài sản, người có quyền nhân thân này phải chuyển giao quyền đó cho chủ thể khác. Quyền nhân thân đối với tác phẩm được phân chia thành hai loại là quyền nhân thân không thể dịch chuyển và quyền nhân thân có thể dịch chuyển. Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân của chủ thể đối với tác phẩm bao gồm:
- Quyền đặt tên cho tác phẩm
- Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm
- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
- Quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm
Nếu quyền nhân thân đem đến cho tác giả các lợi ích tinh thần thì quyền tài sản đem đến cho tác giả các lợi ích vật chất. Các quyền tài sản đối với tác phẩm là các lợi ích vật chất có được từ tác phẩm mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền được hưởng, bao gồm: Hưởng nhuận bút, hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng, hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm, nhận giải thưởng khi tác phẩm trúng giải,… Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm các quyền sau đây:
- Quyền làm tác phẩm phái sinh
- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng
- Quyền sao chép tác phẩm
- Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm
- Quyền nhập khẩu bản sao tác phẩm
- Quyền truyền đạt tác phẩm đến với công chúng
- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính
- Quyền hưởng nhuận bút
- Quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng
- Quyền được hưởng các lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức: xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể,…
- Quyền nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được nhà nước bảo hộ
Điều kiện bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm:
- Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và cũng là chủ sở hữu quyền tác giả;
- Là tổ chức, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào;
- Là tổ chức, cá nhân Việt Nam hay nước ngoài có tác phẩm được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác;
- Là tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh đó, các loại hình tác phẩm phải đủ điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả được nêu tại Điều 14 bộ luật này:
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
- Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
- Tác phẩm báo chí, âm nhạc, nhiếp ảnh;
- Tác phẩm điện ảnh, sân khấu;
- Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
- Tác phẩm kiến trúc;
- Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
- Tác phẩm phái sinh (nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh).
1.2 Quyền tác giả trong Luật thương mại quốc tế:
Luật thương mại quốc tế quy định các quyền tác giả phải được bảo hộ như đã quy định trong các văn bản của WIPO và WTO. Chẳng hạn, chương trình máy tính sẽ được bảo hộ như các tác phẩm văn học theo đúng công ước Berne ( Bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật). Tuy vậy, hiệp định TRIPs mở rộng phạm vi điều chỉnh của các chương trình máy tính và các nhà thu âm còn có quyền không cho công chúng thuê các tác phẩm của họ. Độc quyền tương tự cũng được dành cho các tác phẩm điện ảnh. Việc kinh doanh, cho thuê đã khiến các tác phẩm điện ảnh bị sao chép rất nhiều, khiến người nắm giữ quyền tác giả không thu được hết lợi nhuận mà mình đáng ra được hưởng. Bên cạnh đó, người phiên dịch hoặc người biểu diễn cũng có quyền không cho thu âm, sao chép và phổ biến rộng rãi các hoạt động của họ ít nhất là trong vòng 50 năm. Các nhà sản xuất băng đĩa cũng có quyền không sao chép lại các sản phẩm của họ trong vòng 50 năm.
-
Nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ:
2.1 Định nghĩa và nội dung
Theo khoản 16, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, “ Nhãn hiệu” là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, các cá nhân khác nhau.
Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ 2005 có quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu: “ Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc
- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá dịch vụ của chủ thể khác”
Nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ phải đồng thời đáp ứng hai tiêu chí sau:
– Ở tiêu chí bảo hộ thứ nhất, nhãn hiệu phải hội tụ đủ 2 yếu tố. Thứ nhất là các dấu hiệu có thể nhìn thấy, có thể tri giác được. Thứ hai là các dấu hiệu cụ thể được xem xét là nhãn hiệu được tồn tại dưới dạng chữ cái, từ, hình ảnh, hình vẽ kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc. Luật sở hữu trí tuệ quy định các dấu hiệu bị loại trừ khi xem xét để cấp văn bằng bảo hộ tại Điều 73, các dấu hiệu sau đây không được cấp văn bằng bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu: Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước; biểu tượng; cờ; huy hiệu; tên viết tắt; tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép. Ví dụ: tên viết tắt của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); tên thật, biệt hiệu, hình ảnh lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam,…
– Tiêu chí bảo hộ thứ hai: “ Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ…” theo khoản 1, Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ. Nhãn hiệu dễ nhận biết là nhãn hiệu bao gồm các yếu tố đủ để tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả năng lưu giữ trong trí nhớ hay tiềm thức con người. Bất kỳ ai khi tiếp xúc với chúng đều dễ dàng tri giác và dễ ghi nhớ nhận biết về chúng khi đặt bên cạnh các loại khác. Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 74, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các dấu hiệu của các hàng hoá dịch vụ trùng hoặc tương tự trong các trường hợp sau:
- Nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên
- Nhãn hiệu mà giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu đó đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm ( trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì lí do nhãn hiệu không được sử dụng)
- Nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng, thậm chí trong cả trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng đó được đăng kí bảo hộ, dịch vụ không tương tự nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có khả năng làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhầm lẫn lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.
Thứ hai, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp sau:
- Tên thương mại đang được sử dụng của người khác nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ
- Chỉ dẫn địa lí đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lí của hàng hoá.
- Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp
Căn cứ ở quy định về nhãn hiệu đã phân tích ở trên thì nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của cá nhân, tổ chức kinh doanh khác nhau. Như vậy, nhãn hiệu dùng để gắn lên các loại hàng hoá và các loại dịch vụ để chỉ ra chúng do ai sản xuất hay cung cấp. Hay có thể nói cách khác, nhãn hiệu gồm hai loại cơ bản là nhãn hiệu dùng cho hàng hoá và nhãn hiệu dùng cho dịch vụ.
2.2 Nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ trong Luật thương mại quốc tế:
Luật thương mại quốc tế định rõ các nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ cần được bảo hộ trong mức cần thiết của các quyền tối thiểu, chủ sở hữu cá nhãn hiệu dịch vụ phải được bảo hộ như chủ sở hữu các nhãn hàng hoá. Các nhãn hiệu nổi tiếng ở các nước phải còn được bảo hộ theo các quy chế bổ sung.
-
Chỉ dẫn địa lý:
3.1 Định nghĩa là nội dung:
Thuật ngữ “ chỉ dẫn địa lý” được hiểu là chỉ dẫn nguồn gốc địa lí, xuất xứ của hàng hoá”. Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại ngày nay thì chỉ dẫn địa lí là một vấn đề được quan tâm đặc biệt không chỉ từ nhà sản xuất hàng hoá mà còn cả phái người tiêu dùng. Vì vậy, chỉ dẫn địa lý được coi là một loại tài sản sở hữu trí tuệ có giá trị thương mại lớn và việc bảo hộ là cần thiết không những trong phạm vi quốc gia mà còn cả trên phạm vi quốc tế. Theo khoản 22 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “ Chỉ dẫn địa lí là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”. Như vậy, chỉ dẫn địa lý giúp cho người tiêu dùng biết được hàng hoá đó đến từ khu vực nào với những nét đặc thù riêng của khu vực đó như thế nào trong quá trình lựa chọn sản phẩm.
Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý là một đối tượng sở hữu công nghiệp nếu đáp ứng được các điều kiện của Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ. Chỉ dẫn địa lý chỉ rõ nguồn gốc địa lý của sản phẩm, chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu (có thể là tên gọi, biểu tượng hoặc hình ảnh) những dấu hiệu đó phải thỏa mãn các yêu cầu như:
- Phải gắn với một khu vực, địa phương cụ thể hay nói cách khác tên gọi, biểu tượng hình ảnh đó phải có thực và chỉ thuộc về khu vực địa phương đó mà thôi. Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ. Khu vực địa lý có thể là một đơn vị hành chính quốc gia, khi vực địa lý thuộc một hay nhiều đơn vị hành chính hoặc toàn bộ đơn vị hành chính hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
- Phải được dùng với mục đích duy nhất để chỉ rõ sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc được sản xuất từ khu vực địa phương đó chứ không phải được gắn trên hàng hoá hay bao bì nhằm mục đích trang trí cho đẹp hay vì bất kỳ mục đích nào khác
Về phạm vi bảo hộ của chỉ dẫn địa lý, pháp luật quy định các đối tượng sau không được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý ( Điều 80 Luật sở hữu trí tuệ):
- Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt nam tại thời điểm yêu cầu đăng ký
- Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng
- Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm
- Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lí thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
3.2 Chỉ dẫn địa lý trong Luật thương mại quốc tế:
Tên một khu vực địa lý, một địa điểm đôi khi được sử dụng để nhận dạng sản phẩm. Chỉ dẫn địa lý này không những chỉ ra nơi sản phẩm được sản xuất mà đặc biệt còn chỉ ra các đặc tính của sản phẩm có được từ nguồn gốc của nơi sản xuất ra nó. Các cái tên như “ Champagne”, “Scotch” là những ví dụ mà ai cũng biết. Những nhà sản xuất rượu vang hay rượu mạnh đặc biệt coi trọng việc sử dụng địa danh để nhận dạng các sản phẩm này. Chỉ dẫn địa lý được một số điều khoản đặc biệt của hiệp định TRIPs điều chỉnh. Tuy vậy, đây cũng là vấn đề quan trọng đối với các loại hàng hoá khác.
Việc sử dụng tên khu vực địa lí, địa điểm khi sản phẩm được sản xuất ở nơi khác hoặc không có được những tính năng vốn có của sản phẩm sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh. Hiệp định TRIPs quy định nghĩa vụ các nước thành viên phải ngăn cấm việc sử dụng bừa bãi các địa danh gắn lên sản phẩm. Đối với rượu vang và rượu mạnh, các hiệp định quy định mức độ bảo hộ cao hơn, tức là ngay cả khi không có nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, luật thương mại quốc tế cho phép một số ngoại lệ, đặc biệt khi địa danh đã được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương hiệu hoặc khi nó đã trở thành tên chung. Ví dụ : từ “Cheddar ” ngày nay được dùng để chỉ một loại phomat đặc biệt không nhất thiết phải được sản xuất ở vùng cheddar thuộc nước anh. Tuy nhiên, nước nào muốn nêu ngoại lệ vì những lý do này đều phải tiến hành đàm phán với những nước cũng muốn bảo hộ chỉ dẫn địa lý đó.
-
Kiểu dáng công nghiệp:
4.1 Định nghĩa và nội dung:
Khoản 13 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “ Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp của các yếu tố này”. Sản phẩm được hiểu là đồ vật, dụng cụ, phương tiện…được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng được lưu thông độc lập.
Điều 25 Hiệp định TRIPs quy định về các điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp như sau. Các thành viên phải bảo hộ kiểu dáng công nghiệp mới hoặc nguyên gốc được tạo ra một cách độc lập. Các thành viên có thể quy định rằng kiểu dáng công nghiệp không được coi là mới hoặc nguyên gốc nếu không khác biệt cơ bản với những kiểu dáng đã biết. Các thành viên có thể quy định rằng việc bảo hộ đó không áp dụng cho những kiểu dáng mà hình dáng đó chủ yếu do các đặc tính kỹ thuật và chức năng quyết định. Các thành viên được tự do chọn áp dụng luật kiểu dáng công nghiệp hoặc luật bản quyền để thực hiện nghĩa vụ này.
Ở Việt Nam, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo các quy định pháp luật sở hữu công nghiệp còn về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo luật bản quyền thì hiện chưa có quy định cụ thể.
Để được đăng ký bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây ( Điều 63 Luật sở hữu trí tuệ). Trước hết là tính mới của kiểu dáng công nghiệp phải đạt được 3 tiêu chí ( Điều 65 Luật sở hữu trí tuệ). Thứ nhất là kiểu dáng công nghiệp được công nhận là có tính mới nếu tính đến ngày nộp đơn, kiểu dáng công nghiệp đó có sự khác biệt rõ rệt với những kiểu dáng công nghiệp đã tồn tại trước đó.
Thứ hai, kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt cơ bản với nhau nếu chỉ khác biệt bởi các đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết và ghi nhớ được. Và cuối cùng, kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ chưa bị bộc lộ công khai ở bất cứ đâu, dưới hình thức nào tính đến ngày nộp đơn. Tiêu chí thứ hai là tính sáng tạo, sự sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp được thể hiện thông qua yếu tố cơ bản (Điều 66 Luật sở hữu trí tuệ), là kiểu dáng công nghiệp đó phải là thành quả sáng tạo của tác giả, nó không được tạo ra một cách dễ dàng đối với có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng.
Thứ ba, muốn được đăng ký bảo hộ thì kiểu dáng công nghiệp đó phải được công nhận là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó.
Tóm lại, kiểu dáng được cấp văn bằng bảo hộ nếu về mặt nội dung thỏa mãn được cả 3 tiêu chí cơ bản như đã nên ở trên. Về phạm vi bảo hộ, Điều 64 Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định cụ thể những đối tượng không có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp, bao gồm:
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có
- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp
- Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm.
4.2 Kiểu dáng công nghiệp trong Luật thương mại quốc tế:
Theo luật thương mại quốc tế, các bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp phải được bảo hộ ít nhất trong vòng 10 năm. Chủ sở hữu các bản vẽ được bảo hộ phải có quyền ngăn cấm việc sản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm mang hoặc có chứa hình vẽ giống với hình vẽ đã được bảo hộ.
-
Bằng sáng chế:
5.1 Định nghĩa và nội dung:
Theo khoản 12 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì sáng chế là giải pháp kĩ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề được xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Giải pháp kỹ thuật ở đây có thể hiểu là cơ cấu, phương pháp hay chất mới hay sử dụng cơ cấu, phương pháp cũ theo chức năng mới.
Về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế, theo Điều 27 Hiệp định TRIPs ( Hiệp định về các khía cạnh thương mại có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ) thì bằng sáng chế có thể được cấp cho bất kì sáng chế nào, bất kể là sản phẩm hay quy trình trong tất cả các lĩnh vực công nghệ với điều kiện sáng chế đó là mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “ Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây: Có tính mới; có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp.” Căn cứ vào các quy định trên thì một sáng chế muốn được bảo hộ phải đáp ứng các tiêu chí cơ bản sau:
- Tính mới: Sáng chế được công nhận là mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây ( Điều 60 Luật sở hữu trí tuệ):
- Chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế
- Sáng chế nêu trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế không trùng với giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sáng chế đã được nộp cho cơ quan có thẩm quyền với ngày ưu tiên sớm hơn
Tuy nhiên, bên cạnh đó luật pháp còn quy định về các trường hợp nhằm loại trừ khả năng làm mất tính mới của sáng chế như:
- Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu sáng chế bị người khác vô tình biết thông tin tự ý công bố nhưng không được phép của người nộp đơn và ngày người đó công bố nằm trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng sáng chế
- Sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật công bố dưới dạng báo cáo khoa học trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơn
- Sáng chế được người có quyền đăng kí theo quy định của pháp luật trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức trong thời hạn 6 tháng trước ngày nộp đơn
- Có trình độ sáng tạo: Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạp nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên ( Điều 61 Luật sở hữu trí tuệ ).
- Có khả năng áp dụng công nghiệp: Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu về được kết quả ổn định. ( Điều 62 Luật sở hữu trí tuệ)
Tóm lại, theo quy định của pháp luật thì bất kì giải pháp kỹ thuật nào được 3 điều kiện: Tính mới, trình độ sáng tạo và tính hữu ích thì đều có thể cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế.
Về phạm vi bảo hộ sáng chế: được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì các đối tượng sau đây không được nhà nước bảo hộ dưới dạng danh nghĩa sáng chế ( Điều 59 Luật sở hữu trí tuệ)
- Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học
- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính.
- Cách thức thể hiện thông tin
- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ
- Giống thực vật, giống động vật
- Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
5.2 Bằng sáng chế trong Luật thương mại quốc tế
Luật thương mại quốc tế quy định các sáng chế có thể được bảo hộ thông qua văn bằng sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm. Cả sản phẩm lẫn phương thức sản xuất đều được bảo hộ trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ. Chính phủ các nước có thể từ chối cấp văn bằng sáng chế nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cấm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội. Họ cũng có thể không cấp văn bằng cho các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, các loại thực vật và động vật (không phải là các chủng vi sinh vật) và các phương pháp sinh học sản xuất giống cây trồng và vật nuôi (không phải là các phương pháp vi sinh).
Luật thương mại quốc tế có các quyền tối thiểu dành cho người sở hữu văn bằng sáng chế. Tuy nhiên, ở đây cũng quy định một số ngoại lệ. Có thể xảy ra trường hợp người sở hữu văn bằng sáng chế lạm dụng các quyền của mình, như không cung ứng sản phẩm cho thị trường. Trong trường hợp đó chính phủ các nước có thể cấp “giấy phép bắt buộc” cho phép một đối thủ cạnh tranh được sản xuất sản phẩm này hoặc được phép sử dụng quy trình sản xuất đã được bảo hộ. Tuy nhiên, chính phủ các nước cũng đồng thời phải đáp ứng một số điều kiện nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chính đáng của người giữ văn bằng sáng chế. Nếu là văn bằng sáng chế về quy trình sản xuất thì các sản phẩm được sản xuất trực tiếp từ quy trình này cũng được bảo hộ.
Cho tới gần đây , đối với việc bảo hộ các dược phẩm đã được cấp văn bằng sáng chế vẫn là vấn đề phức tạp nhất là chữa trị căn bệnh HIV/ AIDS. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để vừa không cản trở các nước nghèo tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh, vừa duy trì được vai trò của văn bằng sáng chế là khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển trong ngành dược phẩm. Một số quy định mềm dẻo, như khả năng nhượng lại “giấy phép bắt buộc”, đã được đưa vào hiệp định TRIPs/WTO.
-
Thiết kế bố trí mạch tích hợp:
6.1 Định nghĩa và nội dung:
Trong điều kiện sống hiện đại ngày nay, các trang thiết bị ngày càng tinh xảo và phát huy tối đa tác dụng để phục vụ cho nhu cầu của con người thì không thể nhắc đến vai trò vô cùng quan trọng của mạch điện tử. Các quy định của pháp luật về thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp và tương thích với các văn bản pháp lí quốc tế như Hiệp định TRIPs, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kì và Hiệp ước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp năm 1989 ( viết tắt là IPIC). Khoản 15 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “ Thiết kế bố trí mạch tích hợp ( sau đây gọi là thiết kế bố trí ) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn”
Điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí: Quyền đối với thiết kế bố trí phát sinh trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thiết kế bố trí cấp. Một thiết kế bố trí chỉ được cấp giấy chứng nhận đăng ký nếu có “tính nguyên gốc” và “ tính mới thương mại”
Trước hết, về tính nguyên gốc, tính nguyên gốc của thiết kế bố trí được công nhận nếu thỏa mãn được hai yếu tố sau đây. Thứ nhất, thiết kế bố trí đó là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả thiết kế bố trí. Tác giả thiết kế bố trí đã có sự đầu tư trí tuệ nhất định để tạo ra một bước tiến mới trong công nghệ thiết kế mạch. Hay nói cách khác, thiết kế bố trí đó không phải là sự sao chép, copy của bất khi thiết kế nào đó đã có từ trước mà chính là thành quả của sự nỗ lực của trí tuệ của tác giả. Thứ hai, tại thời điểm được tạo ra, thiết kế bố trí đó chưa được biết đến rộng rãi trong giới những người sáng tạp thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp. Đây chính là yêu cầu về tính mới của thiết kế bố trí. Thiết kế bố trí yêu cầu bảo hộ phải chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức chủ yếu như lời nói, văn bản hay đã được đưa vào sử dụng trong thực tế hoặc bị tiết lộ dưới bất cứ hình thức nào khác. Một điểm cần lưu ý là phạm vi bộc lộ ở đây chỉ bị giới hạn trong giới những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp.
Bên cạnh đó, tính thương mại của thiết kế bố trí được hiểu là thiết kế bố trí đố chưa từng được đưa vào khai thác trong thực tế với mục đích thương mại tại bất khi nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký ( Điều 71 Luật sở hữu trí tuệ). Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại là các mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế bố trí hay hàng hoá có chứa mạch tích hợp bán dẫn đó đã được phân phối công khai trên thị trường nhằm mục đích thương mại. Như vậy, tính mới của thiết kế bố trí chỉ đặt ra trong lĩnh vực thương mại và được xét trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, có một ngoại lệ không được coi là làm mất tính mới thương mại của thiết kế bố trí mặc dù thiết kế bố trí này đã được đưa vào khai thác thương mại trên thực tế, ngoại lệ này phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Việc khai thác thương mại thiết kế bố trí này được tiến hành bởi những người có quyền nộp đơn đăng khi cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật hoặc bởi những người được người đó cho phép.
- Thời điểm lần đầu tiên khai thác thương mại thiết kế bố trí tại bất kỳ đâu trên thế giới đến thời điểm nộp đơn đăng ký không quá 2 năm
Về phạm vi bảo hộ: Pháp luật quy định các đối tượng sau không được bảo hộ dưới danh nghĩa của thiết kế bố trí và sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký: Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn.
6.2 Thiết kế bố trí mạch tích hợp trong Luật thương mại quốc tế:
Việc bảo hộ sơ đồ bố trí mạch tích hợp được thực hiện trên cơ sở hiện định Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp. Tuy đã được thông qua vào năm 1989 nhưng hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực. Hiệp định TRIPs/ WTO bổ sung thêm một số điều khoản chẳng hạn như mạch tích hợp phải được bảo hộ ít nhất 10 năm.
-
Hợp đồng li – xăng:
7.1 Định nghĩa và nội dung:
Khoản 1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (hay còn gọi là li-xăng) là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.
Theo đó, hợp đồng li-xăng là dạng đặc thù của hợp đồng chuyển giao công nghệ. Đây là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ mà theo đó, tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng sở hữu trí tuệ cho phép cá nhân tổ chức khác sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ đó.
Hợp đồng Li – xăng hay còn gọi là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp gồm có 03 dạng:
- Hợp đồng li-xăng độc quyền: là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, bên chuyển quyền không được ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó nếu được phép của bên được chuyển quyền.
- Hợp đồng li-xăng không độc quyền: là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền vẫn có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, quyền ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp không độc quyền với người khác.
- Hợp đồng li xăng thứ cấp là hợp đồng mà theo đó bên chuyển quyền là người được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó theo một hợp đồng khác.
Ngoài ra, theo tính chất tự nguyện Li-xăng, còn có thể chia thành Li-xăng tự nguyện và Li-xăng bắt buộc. Hợp đồng li-xăng tự nguyên là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo ý muốn của chủ sở hữu đối tượng. Chủ sở hữu tuỳ chọn việc chuyển giao cho người nào mà không phải bắt buộc thực hiện. Hợp đồng li-xăng bắt buộc là việc cá nhân, tổ chức nắm độc quyền sử dụng đối với sáng chế buộc phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế của mình cho tổ chức, cá nhân khác theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế trong các trường hợp như vì mục đích an ninh, quốc phòng, y tế, phi thương mại,… theo quy định pháp luật.
Đối tượng của hợp đồng li xăng là quyền sử dụng đối với sáng chế ,kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu ( trừ nhãn hiệu tập thể không thể chuyển giao cho tổ chức cá nhân không phải là thành viên của tổ chức tập thể đó), thiết kế bố trí và bí mật kinh doanh ( Điều 141, Điều 142 Luật sở hữu trí tuệ). Việc li- xăng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Đối tượng li – xăng phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
- Quyền sở hữu công nghiệp tương ứng phải được thừa nhận tại Việt Nam và văn bằng bảo hộ tương ứng đang còn hiệu lực
- Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn
Đối với quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý và tên thương mại không thể là đối tượng của hợp đồng li xăng. Quy định này của pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các quy định của các văn bản pháp luật quốc tế về hợp đồng li xăng bởi chỉ dẫn địa lý là tài sản thuộc sở hữu nhà nước và chỉ trao quyền sử dụng cho tổ chức,cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương đó. Còn tên thương mại được chủ sở hữu sử dụng trong các giấy tờ giao dịch, sản phẩm…trong sản xuất kinh doanh mà không được chuyển giao cho chủ thể khác.
Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp bị hạn chế trong các trường hợp được quy định tại Điều 142 như sau:
- Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao;
- Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó;
- Bên nhận chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.
- Bên nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bảo trì hàng hóa về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.
- Bên nhận chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế theo quy định.
7.2 Hợp đồng li – xăng trong Luật thương mại quốc tế:
Chủ sở hữu bản quyền tác giả, văn bằng hoặc bất cứ quyền sở hữu trí tuệ nào khác đều có thể cho phép một người khác sản xuất hay sao chép nhãn hiệu hàng hoá hoặc dịch vụ, tác phẩm, sáng chế, bản vẽ hoặc các mẫu mã được bảo hộ. Luật thương mại quốc tế cho phép trong một số trường hợp, người chủ sở hữu có thể hạn chế ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ, bản quyền tác giả dạng độc quyền, không có cạnh tranh hoặc cản trở việc chuyển giao công nghệ bằng cách đưa vào hợp đồng chuyển giao đối của quyền sở hữu trí tuệ. Luật thương mại quốc tế cũng cho phép chính phủ các nước, trong một số điều kiện nhất định, có quyền áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa hành vi chống cạnh tranh và lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực nhượng bản quyền. Tuy vậy , chính phủ các nước phải sẵn sàng tham khảo nhau nhằm hạn chế áp dụng các hành vi này.
-
Bí mật kinh doanh:
8.1 Định nghĩa và nội dung:
Thông thường bí mật kinh doanh được hiểu như một thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, được giữ bí mật và có một giá trị kinh tế nhất định bởi nó tạo cho người nắm giữ thông tin một lợi thế trước những đối thủ cạnh tranh. Thông tin bí mật bao gồm bí mật kinh doanh, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng phải bị tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật ( khoản 1 Điều 2 Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Bên cạnh đó, theo Điều 39.3 Hiệp định TRIPs thì thông tin không được tiết lộ khác như những thử nghiệm hoặc dữ liệu không được tiết lộ nhất định được đệ trình như là điều kiện để phê duyệt việc tiếp thị, dược phẩm hoặc các sản phẩm hoá nông có sử dụng các thành phần hoá học mới.
Khái niệm bí mật kinh doanh được quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ như sau: “ Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh: Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện được nêu ở Điều 84 Luật sở hữu trí tuệ sau đây:
- Không phải là hiểu biết thông thường hoặc không dễ dàng có được
- Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với những người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó
- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được
Như vậy, bí mật kinh doanh muốn được bảo hộ phải đáp ứng những điều kiện cơ bản sau:
- Tính sáng tạo: Các thông tin chứa đựng bí mật kinh doanh không phải là những hiểu biết thông thường hay không dễ dàng có được, Các thông tin này là thành quả của cả quá trình đầu tư của chủ sở hữu phục vụ cho việc nghiên cứu, sáng tạo hay là sự đúc rút cả quá trình đầu tư trí tuệ, nó còn là sự kết tụ của cả hoạt động đầu tư tài chính lẫn đầu tư trí tuệ. Ví dụ như công thức hợp chất hoá học, mẫu máy, chiến lược quảng cáo,…Bí mật kinh doanh phải là quy trình hoặc thiết bị để sử dụng liên tục khi tiến hành công việc kinh doanh. Chính vì vậy, những thông tin đó bao giờ cũng hàm chứa một lượng tri thức sáng tạo nhất định.
- Tính hữu ích ( hay còn gọi là giá trị thương mại của bí mật kinh doanh): Các thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính và trí tuệ đó phải có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Hay nói cách khác, những thông tin như vậy áp dụng được trong hoạt động thực tiễn kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Và khi sử dụng chúng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin nhiều lợi thế hơn người không nắm hoặc không sử dụng thông tin đó. Thông tin đó phải tạo ra giá trị kinh tế, giá trị thương mại cho người nắm giữ, sử dụng chúng.
- Tính bảo mật: Trước tiên, các thông tin đó còn phải tồn tại trong tình trạng bí mật, có nghĩa là những người thường xuyên sử dụng, xử lí thông tin đó không biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận được thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ. Một thông tin cũng được coi là có tính bí mật nếu như chỉ có phạm vi hạn chế người biết được thông tin đó. Bên cạnh đó, thông tin đó được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết như:
- Biện pháp hạn chế việc biết được hoặc tiếp cận được thông tin
- Biện pháp chống bộc lộ thông tin
Không chỉ vậy, pháp luật cũng quy định về các thông tin mật không được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh như sau: “ Các bí mật nhân thân; về quản lí nhà nước; về an ninh, quốc phòng; các thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh (Điều 85 Luật sở hữu trí tuệ).
8.2 Bí mật kinh doanh trong Luật thương mại quốc tế:
Bí quyết kinh doanh và các loại “thông tin mật” khác có giá trị thương mại phải được bảo vệ nhằm ngăn chặn việc lạm dụng lòng tin và các hành vi khác trái với nguyên tắc làm ăn trung thực. Tuy vậy, cũng cần phải đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ bí mật của các thông tin này. Nếu được cung cấp các kết quả thử nghiệm trong quá trình cấp phép dược phẩm hoặc sản phẩm hoá học phục vụ nông nghiệp thì chính phủ phải bảo vệ các kết quả này nhằm ngăn ngừa việc khai thác thương mại bất hợp pháp.
Trần Vy Khanh tổng hợp lại.
Mời quý bạn xem tiếp phần 3: CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Mời quý bạn xem phần 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
-
Định nghĩa:
Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác. Chính vì vậy, ngày nay trong quá trình hội nhập và phát triển, việc giao thương mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các nước là điều không thể thiếu của mỗi quốc gia.
Hiện nay có định nghĩa về thương mại quốc tế, căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Bên cạnh đó, căn cứ khoản 1,2 điều 27,28 Luật thương mại 2005, việc mua bán hàng hoá quốc tế là được hiểu là việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá được đưa ra, đưa vào lãnh thổ. Từ đó ta có thể hiểu Thương mại quốc tế là những hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, liên quan trực tiếp đến việc buôn bán, trao đổi hàng hoá với các nước trên thế giới. Nó bao gồm các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế như thương mại, đầu tư, mua bán hàng hóa từ hữu hình đến các dịch vụ.
-
Các thời kỳ phát triển của thương mại quốc tế:
Thương mại quốc tế đã ra đời tư khá lâu nhưng chỉ thực sự phát triển vào cuối chiến tranh thứ 2. Trải qua những thời kỳ và phát triển khác nhau nhưng có thể chia sự hình thành và phát triển của thương mại quốc tế ra thành 4 thời kỳ:
- Ở thời kỳ thứ nhất ( TK XIX TCN – TK IV): Trong thời kỳ này, thương mại quốc tế được coi là hình thành thông qua việc trao đổi và mua bán hàng hoá giữa các quốc gia láng giềng. Việc mua bán hàng hoá không còn bị bó hẹp trong mỗi quốc gia mà đã vượt qua biên giới. Một trong những sự kiện quan trọng của thương mại quốc tế thời kỳ này là có sự xuất hiện của “ Con đường tơ lụa” nối liền Châu Á và Châu Âu. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, phương tiện giao thông, vận chuyển hàng hoá còn chưa phát triển nên hoạt động thương mại quốc tế ở thời kỳ này chỉ diễn ra ở quy mô nhỏ.
- Thời kỳ thứ hai ( TK V – TK XIII): Ở thời kỳ này, vô số cuộc chiến tranh nổ ra dẫn đến thương mại quốc tế kém phát triển, tuy nhiên hoạt động thương mại vẫn diễn ra phổ biến và nhộn nhịp ở một số thành phố thuộc Châu Âu và Trung Đông – những nơi được coi là trung tâm của giao dịch thương mại Venise, Istanbul, Baghdad,..
- Thời kỳ thứ ba ( TK XIV – Năm 1945): Đây được coi là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế bởi giao thông phát triển, đặc biệt là giao thông đường thuỷ nên việc trao đổi hàng hoá cũng vì thế mà phát triển. Trong thời kỳ này, để đáp ứng nhu cầu liên quan đến hoạt động thương mại, nhiều dịch vụ liên quan cũng hình thành và phát triển như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.
- Thời kỳ thứ 4 ( Năm 1945 – Đến nay ): Là thời kỳ phát triển mạnh mẽ chưa từng có của thương mại quốc tế. Sự phát triển mạnh mẽ này có được nhờ những thành tựu của khoa học kỹ thuật và những sự quan tâm đặc biệt cho thương mại quốc tế, khởi đầu bằng việc hình thành của GATT ( 1947) và WTO ( 1995 )
3. Chủ thể trong thương mại quốc tế:
3.1, Chủ thể cá nhân:
Cá nhân là chủ thể trong thương mại quốc tế là các thương nhân hội tụ đủ những điều kiện mà pháp luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà luật pháp các nước có thể quy định cụ thể hoặc không cụ thể đối với những cá nhân khi tham gia quan hệ thương mại quốc tế với tư cách chủ thể. Nếu pháp luật yêu cầu cụ thể thì chỉ có những người có đầy đủ những yêu cầu của pháp luật thì mới có thể trở thành chủ thể của quan hệ luật thương mại quốc tế. Và nếu pháp luật không quy định cụ thể về điều kiện của chủ thể trong luật thương mại quốc tế thì khi xem xét tư cách chủ thể của một người trong quan hệ thương mại quốc tế sẽ căn cứ vào các quy định đối với cá nhân là thương nhân trong quan hệ pháp luật thương mại trong nước và đồng thời bổ sung một số điều kiện nhất. Hay ta có thể hiểu, trong trường hợp này, cá nhân muốn trở thành chủ thể luật thương mại quốc tế thì phải thương nhân trong quan hệ thương mại trong nước, đồnsỡ hưug thời có đủ các điều kiện bổ sung theo quy định pháp luật để có thể tham gia giao dịch thương mại quốc tế ( theo điều 73 LTM 2005)
Mặc dù có những quy định cụ thể khác nhau nhưng nhìn chung luật pháp các nước đều dựa trên hai tiêu chuẩn pháp lý liên quan trực tiếp tới cá nhân đó là các điều kiện về nhân thân và các điều kiện về nghề nghiệp của cá nhân. Trước hết, điều kiện về nhân là điều kiện pháp lý gắn liền với một con người cụ thể. Theo quy định của hầu hết các nước, việc xem xét điều kiện của một người có thể trở thành nhân thân hay không kông chỉ căn cứ vào năng lực pháp luật và năng lực hành vi mà còn phải căn cứ vào những yêu cầu khác ví dụ như không phải là người bị cơ quan có thẩm quyền tước quyền tham gia kinh doanh hoặc người đang chấp hành án phạt tù,…Thứ hai, cá nhân đó còn phải đáp ứng được điều kiện về nghề nghiệp. Những người đang làm một số ngành nghề nhất định sẽ không được tham gia hoạt động thương mại trong đó có hoạt động thương mại quốc tế. Ví dụ, theo luật thương mại của Cộng hoà Pháp thì những người làm các công việc như công chức, luật sư, bác sĩ, công chứng viên,..thì sẽ không được tham gia hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng. Theo điều 6 Luật thương mại 2005 thì thương nhân là cá nhân phải là người hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
3.2, Chủ thể pháp nhân:
Pháp nhân là tổ chức được nhà nước thành lập hoặc công nhận khi hội đủ các điều kiện pháp lý theo quy định của pháp luật. Pháp nhân với tư cách là chủ thể trong quan hệ thương mại nói chung và trong quan hệ thương mại quốc tế nói riêng được tồn tại dưới nhiều hình thức như công ty, hãng kinh doanh,..Theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới, pháp nhân với tư cách chủ thể của quan hệ thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng được gọi là thương nhân. Các tiêu chuẩn pháp lý để xác định tư cách thương nhân của pháp nhân được quy định trong luật thương mại của các nước. Theo khoản 1,2 Điều 6 Luật thương mại 2005 thì thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và có quyền hoạt động trong phạm vi ngành nghề tại các địa bàn, dưới mọi hình thức, bằng các phương thức mà pháp luật không cấm.
Trong nguyên tắc tự do kinh doanh trong thương mại quốc tế, hầu hết các nước cho phép mọi pháp nhân là thương nhân khi có đầy đủ điều kiện tham, gia hoạt động thương mại trong nước thì cũng được phép tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, pháp luật của một số nước còn đưa ra một số điều kiện bổ sung để xác định tư cách chủ thể đối với loại thương nhân này.
Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập hoặc đăng ký theo pháp luật nước ngoài hoạt động tại nước sở tại. Trong quá trình hoạt động, thương nhân phải tuân thủ pháp luật của nước nó hoạt động. Ví dụ theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam, thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận. Ngoài ra, thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam ( theo khoản 1,2 Điều 16 Luật thương mại 2005)
3.3, Chủ thể quốc gia:
Trong thương mại quốc tế, quốc gia tham gia với tư cách là chủ thể có trong hai trường hợp. Một là kí kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về thương mại. Hai là tham gia giao dịch thương mại với các chủ thể khác như cá nhân và pháp nhân.
Ở trường hợp thứ nhất, với tư cách chủ thể trong quan hệ quốc tế, quốc gia kí kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế. Trong đó, quốc gia thoả thuận với các quốc gia khác về quyền và nghĩa vụ của mình trong thương mại quốc tế. Ví dụ như khi kí Hiệp định chung thuế quan và thương mại (GATT) các nước thành viên đã cam kết thực hiện những điều đã thoả thuận.
Trong trường hợp thứ hai, quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế với các chủ thể khác nhau như cá nhân và pháp nhân. Khi tham gia quan hệ này, quốc gia luôn là chủ thể đặc biệt và được hưởng quy chế đặc biệt. Theo đó, một số nguyên tắc trong giao dịch hợp đồng sẽ bị hạn chế áp dụng nếu các quốc gia tham gia với tư cách chủ thể không tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ của mình. Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc bình đẳng. Về mặt lý luận, khi tham gia ký kết hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, các bên chủ thể trong quan hệ luôn bình đẳng với nhau. Tuy nhiên, thực tế, trong quan hệ hợp đồng mà một bên chủ thể là nhà nước thù nguyên tắc bình đẳng hầu như không được đặt ra. Nói cách khác, khi hợp đồng kinh doanh được ký kết giữa quốc gia và thương nhân thì nguyên tắc bình đẳng giữa các bên không được áp dụng. Bởi lẽ, khác với các loại chủ thể khác nhau như cá nhân và pháp nhân, quốc gia là chủ thể có quyền. Quốc gia có quyền tối cao trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại.
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc chọn luật, về mặt pháp lý, hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên chủ thể, do đó các bên có quyền thỏa thuận tất cả những vấn đề mà pháp luật không cấm. Suy ra, trong đó có cả việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Các bên có thể chọn luật do các bên mang quốc tịch, luật nơi ký kết hợp đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng,…Tuy nhiên, trong trường hợp một bên là chủ thể quốc gia thì vấn đề chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó không được đặt ra vì pháp luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là pháp luật của quốc gia với tư cách chủ thể của quan hệ hợp đồng đó.
Mời quý bạn xem tiếp phần 2: Các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến Luật Thương mại quốc tế.
Trần Vy Khanh tổng hợp lại.
Những điều lưu ý khi xảy ra tranh chấp về sở hữu trí tuệ
1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ
Khi có tranh chấp về sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, cá nhân cần nắm được các loại biện pháp hiện nay dùng để giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ, cụ thể là biện pháp hình sự, hành chính và dân sự. Tuy nhiên, thực tế hiện nay rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm được thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ. Dẫn đến trên thực tế, đa phần các tranh chấp về sở hữu trí tuệ đều được xử lý bằng biện pháp hành chính, ít có tính răn đe trong khi những tranh chấp này lẽ ra phải xử lý bằng con đường tố tụng dân sự. Do đó, các doanh nghiệp, cá nhân cần lưu ý kỹ về thẩm quyền trước khi tiến hành giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ. Cụ thể:
- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
- Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; và
- Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Chuẩn bị đầy đủ tài liệu, hồ sơ và nghĩa vụ chứng minh
Việc chuẩn bị đầy đủ tài liệu, hồ sơ trước khi tham gia giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ là điều bắt buộc phải có. Thực tế, đây là một quá trình lâu dài để các doanh nghiệp, cá nhân có thể chứng minh được sự vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, sản phẩm, tác phẩm văn học… trong đó, bao gồm việc thu thập chứng cứ, kiểm định. Ở giai đoạn này, tổ chức, cá nhân có thể tìm đến Công ty luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam để nhờ hỗ trợ giấy tờ, hồ sơ và tư vấn pháp lý.
Về nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn, nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:
- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;
- Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng ; và
- Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.
Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Về nghĩa vụ chứng minh của bị đơn, trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
- Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ là sản phẩm mới; và
- Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng.
3. Văn bằng bảo hộ và hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ
Văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu (sau đây gọi là chủ văn bằng bảo hộ); tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.
Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tính chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý.
Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
- Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu; hoặc
- Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.
Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ trong các trường hợp nêu trên với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.
Về thời hiệu yêu cầu hủy bỏ văn bằng bảo hộ, thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn.
4. Các biện pháp dân sự mà Tòa án có thể áp dụng
Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại; và
- Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ doanh nghiệp ắt hẳn sẽ gặp nhiều khó khăn do vướng mắt đối với các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật cạnh tranh. Để đạt được hiệu quả trong tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp, cá nhân nên tham khảo ý kiến tư vấn pháp lý của công ty luật chuyên về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Khoảng cách giới về sở hữu trí tuệ (IP) thực sự là một vấn đề; chỉ có khoảng 16 phần trăm đơn đăng ký bằng sáng chế được nộp thông qua Hiệp ước hợp tác bằng sáng chế (PCT) của WIPO là của phụ nữ, khiến vô số bộ óc thông minh và ý tưởng của họ chưa được khai thác. WIPO ước tính rằng với tốc độ hiện tại, sự bình đẳng giới giữa các nhà phát minh được liệt kê trong danh sách PCT sẽ không đạt được trước năm 2064. Bằng cách hành động ngay bây giờ để tạo điều kiện và hỗ trợ các nhà đổi mới là phụ nữ, chúng ta có thể mở khóa tiềm năng đổi mới của họ, củng cố IP và hệ sinh thái đổi mới cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bất chấp mức độ nghiêm trọng của thách thức, vẫn có những dấu hiệu tiến bộ. Chúng tôi nhận thấy ngày càng có nhiều sự phát triển thú vị trong các lĩnh vực đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp liên quan đến hành động phối hợp nhằm thu hút nhiều phụ nữ hơn tham gia vào hoạt động kinh doanh đổi mới và sáng tạo. Ví dụ, nhiều văn phòng sở hữu trí tuệ quốc gia trên toàn cầu đang triển khai các sáng kiến nhằm hỗ trợ phụ nữ trong hành trình sở hữu trí tuệ của họ. Những sáng kiến này có chung một mục tiêu, đó là tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào hệ thống sở hữu trí tuệ bằng cách giảm phí và hỗ trợ pháp lý miễn phí cho việc chuẩn bị và nộp đơn đăng ký sáng chế.
Các ví dụ bao gồm Chương trình khuyến khích bảo vệ thiết kế và bằng sáng chế Juana (JPIP) của Văn phòng sở hữu trí tuệ Philippines (IPOPHL), chương trình này đang giúp các nhà phát minh và nhà thiết kế nữ có thể bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của họ. Tương tự, ở Ấn Độ, Văn phòng Tổng kiểm soát Bằng sáng chế, Kiểu dáng và Nhãn hiệu (CGPDTM) giảm 80% lệ phí cho các công ty khởi nghiệp và doanh nhân nữ. Tại Hoa Kỳ, Văn phòng Bằng sáng chế và Thương hiệu (USPTO) đã giảm phí cho các tổ chức nhỏ và siêu nhỏ lần lượt là 60% và 80%. Hơn nữa, Chương trình Pro Bono của USPTO cung cấp hỗ trợ pháp lý miễn phí cho các nhà phát minh và doanh nghiệp nhỏ, nhiều trong số đó do phụ nữ lãnh đạo, giúp họ dễ dàng đưa ý tưởng của mình ra thị trường. Và ở Mexico, thông qua chương trình Mujeres Innovadoras , Viện Sở hữu Công nghiệp Mexico (IMPI) cung cấp cho phụ nữ nhiều nguồn lực khác nhau, bao gồm xây dựng kỹ năng, cố vấn và các cơ hội đào tạo khác để giúp họ gia tăng giá trị và thương mại hóa các công nghệ đổi mới của họ.
Một thế giới nơi phụ nữ ở khắp mọi nơi có thể theo đuổi đam mê khoa học và công nghệ
Tại WIPO, chúng tôi tận tâm cung cấp sự hỗ trợ và các nguồn lực cần thiết để giúp phụ nữ bảo vệ và nâng cao giá trị công việc của họ thông qua việc sử dụng hệ thống IP. Bằng cách làm như vậy, chúng tôi không chỉ mang lại lợi ích cho chính phụ nữ mà còn tăng cường khả năng tập thể của chúng tôi để phát triển các công nghệ và giải pháp tiên tiến có thể thay đổi cộng đồng của chúng tôi. Nó cũng tạo cơ hội cho nhiều doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo phát triển mạnh hơn, củng cố khả năng phục hồi kinh tế trong những thời điểm thử thách này. Tất cả chúng ta đều đạt được lợi ích khi mọi phụ nữ đều có cơ hội theo đuổi niềm đam mê của mình đối với khoa học, công nghệ và nghệ thuật bất kể trách nhiệm gia đình hay sự nghiệp bị gián đoạn.
Nhận thấy nhu cầu hỗ trợ phụ nữ tái gia nhập lực lượng lao động sau thời gian vắng mặt liên quan đến trách nhiệm gia đình, Bộ Khoa học và Công nghệ Ấn Độ đã triển khai Chương trình Nhà khoa học Phụ nữ (WOS). Chương trình này cung cấp cho những phụ nữ đã nghỉ việc các khoản tài trợ nghiên cứu và học bổng như một động lực để họ theo đuổi sự nghiệp trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Đến nay, khoảng 800 phụ nữ đã được đào tạo thông qua chương trình. Khoảng 270 người trong số họ đã trở thành đại lý bằng sáng chế đã đăng ký, làm việc với các nhà phát minh để giúp họ đảm bảo sự bảo vệ pháp lý cho bằng sáng chế của họ. Những phụ nữ này hiện chiếm khoảng 10% trong số các đại lý bằng sáng chế đang hoạt động và người hỗ trợ sở hữu trí tuệ cho các công ty khởi nghiệp ở Ấn Độ. Những kế hoạch như vậy giúp tạo ra một môi trường đổi mới và sở hữu trí tuệ toàn diện hơn, nơi phụ nữ có thể phát huy tài năng của mình và theo đuổi tham vọng vì lợi ích của mọi người.
Thử thách dữ liệu
Thu thập dữ liệu về sự góp mặt của phụ nữ trong các lĩnh vực đổi mới và sở hữu trí tuệ là một trọng tâm quan trọng vì nó có thể giúp xác định quy mô và nguồn gốc của thách thức, từ đó hỗ trợ các nỗ lực thu hẹp khoảng cách giới.
WIPO đã và đang dẫn đầu các nỗ lực quốc tế nhằm thu thập dữ liệu liên quan đến sở hữu trí tuệ và giới nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách bằng chứng họ cần để hoàn thiện các chính sách tập trung vào giới hiệu quả. Để bổ sung cho những nỗ lực này, vào năm 2022, WIPO đã ban hành Hướng dẫn Sản xuất Phân tích Giới tính từ Đổi mới và Dữ liệu Sở hữu trí tuệ cho các văn phòng, công ty và trường đại học về Sở hữu trí tuệ. Hướng dẫn tóm tắt các phương pháp hay nhất để phát triển các chỉ số giới về sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo. Chúng được thiết kế để giúp chính phủ và các nhà nghiên cứu đạt được sự cân bằng giới bình đẳng hơn đối với sở hữu trí tuệ và đổi mới khi tiến hành nghiên cứu và thiết kế các chính sách liên quan.
Công việc quan trọng trong lĩnh vực này cũng đang được thực hiện trong cộng đồng IP quốc tế. Ví dụ, Văn phòng Bằng sáng chế Châu Âu (EPO) đang hành động để thúc đẩy sự đa dạng và hòa nhập trong các lĩnh vực đổi mới và sở hữu trí tuệ bằng cách nêu bật những thành tựu của các nhà phát minh nữ thành công và nâng cao nhận thức về khoảng cách giới trong phát minh. Thông qua báo cáo của mình, Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động sáng tạo , EPO đã làm sáng tỏ thách thức lớn mà các nước châu Âu phải đối mặt về việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong khoa học, với lý do sự tham gia đó là yếu tố chính đối với tính bền vững và khả năng cạnh tranh trong tương lai của khối. Báo cáo xem xét sự tham gia của phụ nữ ở 39 quốc gia thành viên của tổ chức, đồng thời đưa ra những hiểu biết và bằng chứng về giới và bằng sáng chế ở châu Âu để giúp đảm bảo rằng sự đa dạng và hòa nhập là ưu tiên hàng đầu trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ và đổi mới của châu Âu.
Một nỗ lực tương tự là rõ ràng ở Mỹ Latinh. Mạng lưới sở hữu trí tuệ và giới ở Mỹ Latinh đang tạo ra một lộ trình để phụ nữ có quyền tiếp cận bình đẳng với hệ thống sở hữu trí tuệ và các nguồn lực khác giúp họ biến nguyện vọng của mình thành các giải pháp có thể bán được với sự hỗ trợ đầy đủ của cộng đồng và các tổ chức của họ. Mạng lưới này bao gồm các văn phòng IP của Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Costa Rica, Cộng hòa Dominica, Ecuador, Mexico, Peru và Uruguay, và sáng kiến này đang thúc đẩy việc trao đổi kinh nghiệm và thực tiễn tốt nhất giữa các văn phòng tham gia. Mục đích của họ? Để thu hẹp khoảng cách giới bằng cách trang bị cho phụ nữ kiến thức, kỹ năng và nguồn lực họ cần để thành công trong đổi mới và khởi nghiệp. Cuba, Panama và Paraguay gần đây cũng đã tham gia mạng lưới này. WIPO tự hào là thành viên danh dự của sáng kiến hướng tới tương lai này.
Bằng cách chia sẻ và thực hiện các chiến lược và sáng kiến thành công trong cộng đồng toàn cầu theo cách này, chúng tôi truyền cảm hứng cho nhau hành động vì sự thay đổi tích cực. Như những sáng kiến tiên phong này đã chứng minh, khi chúng ta làm việc cùng nhau và kết hợp kiến thức, nguồn lực và niềm đam mê của mình, chúng ta có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp mạnh mẽ để phá vỡ các rào cản và mở ra cánh cửa cho phụ nữ trong đổi mới và tinh thần kinh doanh vì lợi ích tập thể của chúng ta.
Khi chúng ta làm việc cùng nhau và kết hợp kiến thức, nguồn lực và niềm đam mê của mình, chúng ta có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp giúp phá vỡ các rào cản và mở ra cánh cửa cho phụ nữ đổi mới và khởi nghiệp vì lợi ích chung của chúng ta.
WIPO ưu tiên tư vấn sở hữu trí tuệ cho nữ doanh nhân
Nhận thức được giá trị của cố vấn trong việc tạo điều kiện cho các nữ doanh nhân đạt được các mục tiêu kinh doanh của họ, WIPO đang triển khai nhiều chương trình cố vấn sở hữu trí tuệ ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Các chương trình này cung cấp hướng dẫn, kiến thức và nguồn lực để giúp các doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo thành công trong việc bảo vệ và tận dụng tài sản sở hữu trí tuệ của họ để phát triển doanh nghiệp.
Ví dụ, ở Châu Phi, thông qua dự án Sở hữu trí tuệ dành cho Nữ doanh nhân của WIPO, 70 nữ doanh nhân ở Uganda đã đăng ký nhãn hiệu của họ, một bước quan trọng đầu tiên giúp họ xây dựng thương hiệu và quảng bá doanh nghiệp hiệu quả hơn cũng như cạnh tranh trên thị trường.
Những người cố vấn như Muribu Lilian Nantume rất quan trọng đối với sự thành công của dự án, cung cấp quyền truy cập vào các mạng và tài nguyên giúp phụ nữ phát huy hết tiềm năng của họ. “Chúng tôi nhận ra rằng những phụ nữ này tài năng nhưng không được giúp đỡ,” bà Muribu nói, đồng thời lưu ý rằng bằng cách đưa IP đến cơ sở và hỗ trợ phụ nữ ở cấp cộng đồng, dự án đang trao quyền cho những phụ nữ tài năng và giúp họ đạt được các mục tiêu kinh doanh và hiện thực hóa tiềm năng đầy đủ của họ.
Caroline Matoru, một doanh nhân tham gia chương trình lưu ý rằng nhãn hiệu mới mua của cô ấy đang tạo niềm tin lớn hơn cho khách hàng của cô ấy. “Bây giờ khách hàng của tôi tin tưởng sản phẩm của tôi,” cô lưu ý. Dựa trên kinh nghiệm của mình, cô Matoru đã tham gia chương trình với tư cách là người cố vấn. Một trong những người được cô hướng dẫn, Florence Nabukenya, người sở hữu một doanh nghiệp gia vị, đã thấy doanh thu và lợi nhuận tăng lên rõ rệt sau khi đăng ký nhãn hiệu của mình. Nhờ những hiểu biết thu được từ chương trình, cô Nabukenya hiện đang hợp tác với các nữ nông dân địa phương, những người sản xuất 75% nguyên liệu thô mà cô sử dụng trong sản phẩm của mình. Khi làm như vậy, cô ấy đang hỗ trợ việc làm tại địa phương và sinh kế của những nữ nông dân hiện có thể chi trả cho việc học hành của con cái họ.
Phụ nữ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách bằng cách tin tưởng vào khả năng của mình, tập trung vào nguyện vọng của mình và quan trọng nhất là hành động!
Tương tự, Chương trình Nữ doanh nhân và Sáng tạo châu Á-Thái Bình Dương của WIPO đang có tác động tích cực. Đến nay, chương trình đã kết nối 150 phụ nữ từ Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka và Việt Nam với thế giới IP và đổi mới. Chương trình đã mở rộng kiến thức về sở hữu trí tuệ, trang bị cho họ những kỹ năng và công cụ cần thiết để khai thác và hưởng lợi từ các cơ hội thị trường.
Yendi Amalia , một doanh nhân tự lập người Indonesia có nhãn hiệu đã đăng ký, đã là động lực cố vấn cho phụ nữ về đổi mới và tinh thần kinh doanh thông qua chương trình này. Bà Amalia lưu ý rằng khi phụ nữ trở thành doanh nhân, họ có được một bản sắc mới giúp họ tự do phát triển. Bà nói: “Trở thành một nữ doanh nhân hoặc nhà lãnh đạo cho phép bạn có bản sắc riêng của mình. Bạn không muốn bản sắc của mình bị phai mờ vì bạn là mẹ hoặc vợ/chồng của người khác. Trở thành một doanh nhân mang đến cho bạn không gian để phát triển bản thân”, cô nói thêm.
Một người tham gia khác, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân, đã phát triển một công nghệ tiên tiến để sản xuất nước ép trái cây nhiệt đới ở dạng cô đặc. Sự cố vấn mà cô nhận được từ các chuyên gia sở hữu trí tuệ đang giúp cô đưa công nghệ của mình lên một tầm cao mới. Thật vậy, cô ấy đã nộp đơn đăng ký bằng sáng chế quốc tế theo Hiệp ước hợp tác bằng sáng chế ( PCT ) để bảo vệ công nghệ của mình ở nhiều quốc gia, từ đó tạo ra tiềm năng tiếp cận thị trường mới và mở rộng đáng kể hoạt động kinh doanh của cô ấy.
Những câu chuyện thành công như vậy minh họa tác động biến đổi mà việc tư vấn cho phụ nữ về IP có thể có về mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh doanh, cũng như những lợi ích dây chuyền tích cực cho nền kinh tế và cộng đồng địa phương.
Chúng tôi hy vọng rằng sự thành công của những người phụ nữ này sẽ truyền cảm hứng cho những người khác dám theo đuổi tham vọng của họ.
Bằng cách tạo ra nhiều cơ hội hơn cho những phụ nữ tài năng tiếp cận dịch vụ tư vấn về sở hữu trí tuệ và kinh doanh, chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt thực sự. Bằng cách hỗ trợ các nhà phát minh và doanh nhân nữ, chúng tôi giúp họ nhận ra tiềm năng của mình và khi làm như vậy, chúng tôi tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
Bằng cách hỗ trợ các nhà phát minh và doanh nhân nữ, chúng tôi giúp họ nhận ra tiềm năng của mình và khi làm như vậy, chúng tôi tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
Bây giờ là lúc phải hành động
Mặc dù khoảng cách giới kéo dài trong sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo có vẻ là một vấn đề nan giải, nhưng phụ nữ có thể đóng vai trò chính trong việc thu hẹp khoảng cách bằng cách tin tưởng vào khả năng của mình, tập trung vào nguyện vọng và quan trọng nhất là hành động! Sự trao quyền đến từ bên trong. Không ai có thể trao quyền cho bạn nếu bạn không tích cực tham gia vào quá trình này.
Dưới đây là một vài ý tưởng về nơi bắt đầu.
- Tìm một người hướng dẫn cố vấn và truyền cảm hứng cho bạn trên hành trình đổi mới. Tìm kiếm các chương trình cố vấn và bắt đầu xây dựng mạng lưới của bạn.
- Trao quyền cho bản thân thông qua giáo dục. Học viện WIPO cung cấp các khóa học miễn phí, bao gồm các chương trình đào tạo từ xa, để giúp bạn điều hướng hệ thống IP. Nếu bạn là một nhà khoa học nữ hoặc nhà đổi mới, hãy xem các khóa học trực tuyến của Học viện về các chủ đề sở hữu trí tuệ liên quan đến khoa học để có được kiến thức về sở hữu trí tuệ mà bạn cần để bảo vệ, gia tăng giá trị và thương mại hóa nghiên cứu khoa học của mình. Tìm hiểu về quyền sở hữu trí tuệ có thể giúp mở đường cho thành công của bạn.
- Tìm hiểu về các dịch vụ được cung cấp bởi văn phòng IP quốc gia của bạn. Ở nhiều quốc gia, các văn phòng sở hữu trí tuệ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Các dịch vụ này bao gồm hướng dẫn về cách gửi đơn đăng ký để bảo vệ tài sản IP của bạn, các chương trình đào tạo để giúp bạn hiểu và hiểu rõ hơn về tính hợp pháp của hệ thống IP cũng như khả năng tiếp cận các cơ hội tài trợ. Những sáng kiến như vậy có thể giúp bạn quản lý hiệu quả tài sản sở hữu trí tuệ và thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình.
- Khám phá trang web “Ý tưởng kinh doanh” của WIPO để biết các công cụ miễn phí như Điều hướng tài sản trí tuệ cho các công ty mới thành lập và Công cụ chẩn đoán IP , giúp các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đánh giá sức mạnh của IP của họ.
- Tham gia chiến dịch Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2023 . Chủ đề năm nay Phụ nữ và Sở hữu trí tuệ: Thúc đẩy Đổi mới và Sáng tạo, tôn vinh thái độ “làm được” của các nhà phát minh, nhà sáng tạo, doanh nhân và chuyên gia sở hữu trí tuệ là phụ nữ trên khắp thế giới. Vì vậy, hãy đánh dấu ngày 26 tháng 4 trên lịch của bạn. Chúng tôi mong đợi để nhìn thấy bạn ở đó!
CÂU 1: PHÂN TÍCH VÀ NÊU Ý NGHĨA NGUYÊN TẮC NỘP ĐƠN ĐẦU TIÊN? Nguyên tắc này áp dụng cho những đối tượng nào?
Trong sở hữu công nghiệp thì không thể nào tránh khỏi tình trạng nhiều đơn đăng ký bảo hộ cho đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp/ SHTT trùng hay có tương tự nhau cùng nộp để xin cấp văn bằng bảo hộ thì Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “first to file” ra đời để xử lý vấn đề này.
-Thứ nhất: Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương nhau, thì Bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế theo đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp Bằng bảo hộ.
-Thứ hai: Theo quy định tại khoản 3 Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký để được cấp Bằng bảo hộ là sáng chế và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì Bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó. Trường hợp này, các chủ thể có quyền nộp đơn cùng nhau thỏa thuận về việc cấp bằng sáng chế cho ai. Nếu không tỏa thuận được thi các đối tượng của các đơn yêu cầu bảo hộ bị từ chối cấp Bằng bảo hộ. Nguyên tắc này thể hiện viêc cấp Bằng bảo hộ chỉ cấp cho một sáng chế có nội dung trùng hoặc không khác biệt của nhiều chủ thể sáng tạo độc lập tạo ra giải pháp kỹ thuật.
- Ý nghĩa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong Sở hữu trí tuệ nói chung:
– Đảm bảo cho việc một đối tượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ được cấp cho một người duy nhất;
– Không cho phép chậm trễ trong việc nộp đơn nếu muốn được cấp văn bằng bởi nó được coi như một công cụ tạo nên sức bật thúc đẩy việc nộp đơn được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả;
– Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo;
– Nâng cao ý thức của chủ thể sở hữu công nghiệp trong việc nộp đơn sớm;
– Giúp cơ quan nhà nước không cần phải “căng não” để quyết định chủ thể nào được cấp văn bằng và cũng ít nảy sinh tranh chấp hơn.
- Ý nghĩa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
– Đối với sáng chế nếu có nhiều đơn đăng ký sáng chế trùng hoặc tương tự nhau thì Bằng độc quyền sáng chế chỉ được cấp cho sáng chế có đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp sớm nhất.
– Đối với kiểu dáng công nghiệp nếu có nhiều đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì Bằng độc quyền KDCN chỉ được cấp cho kiểu dáng có đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp sớm nhất.
– Nếu có nhiều đơn hợp lệ có cùng ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì Bằng độc quyền sáng chế và kiểu dáng công nghiệp chỉ được cấp cho đối tượng của 1 đơn duy nhất trong số các đơn theo thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn. Trường hợp không thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn sẽ bị từ chối cấp
- Ý nghĩa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với nhãn hiệu
– Nếu có nhiều đơn của nhiều người hoặc của cùng 1 người đăng ký các nhãn hiệu trùng. Hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm. Dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau thì GCN sẽ chỉ được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp sớm nhất.
– Nếu có nhiều đơn hợp lệ có cùng ngày ưu tiên. Hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì Văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của 1 đơn duy nhất trong số các đơn theo thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn. Trường hợp không thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn sẽ bị từ chối cấp.
Lưu ý: Ngày ưu tiên là 1 trong những quy định trong điều ước quốc tế về SHCN. Các nước thành viên của Công ước Paris về sở hữu công nghiệp. Công ước PCT về bảo hộ sáng chế.
Trên đây là những phân tích nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong sở hữu công nghiệp. Vì vậy, qua việc này chủ sở hữu sẽ chủ động hơn trong việc nộp đơn để bảo đảm mọi quyền lợi.
Hy vọng qua câu trả lời trên bạn đã hiểu rõ hơn về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ như: nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế …
1) Vấn đề thực tế trong bảo vệ tác quyền các Game mới hiện nay:
WINCO đã từng hỗ trợ tư vấn nhiều tác giả, chủ sở hữu nhà đầu tư Games trong vấn đề bảo hộ quyền tác giả, tác phẩm của mình, đặc biệt là với các dự án đầu tư Games nhiều triển vọng. Một nhà đầu tư nước ngoài (xin dấu tên) đầu tư hơn 2 triệu USD vào một Studio tại Việt Nam với mong muốn thiết kế ra 1 tựa game bắt mắt và nhiều sáng tạo trên không gian mạng lưới Blockchain- NFT. Tuy nhiên do chưa tìm hiểu kỹ về Luật pháp Việt Nam nhà đầu tư đó không ký kết hợp đồng đầy đủ và chặt chẽ dẫn tới Studio kia đã đăng ký bản quyền của Game, các nhân vật Games, hình ảnh của Game dưới tên mình mà không có sự tham gia của Đối tác nước ngoài nọ. Để giải quyết vấn đề này Công ty Luật WINCO phải liên hệ với đối tác nước ngoài kia và cùng chứng minh rằng đối tác đã có sự ủy quyền và thỏa thuận qua email về bản quyền của Game sẽ được đồng sở hữu dưới tên Đối tác thay vì chỉ các tác giả của Studio.
Vấn đề bản quyền tác giả hiện nay là 1 vấn đề khá phức tạp khi đứng dưới góc độ Luật pháp của Việt nam, đặc biệt khi ngày càng có nhiều đối tác nước ngoài muốn đầu tư tại Việt Nam thông qua các đối tác trong nước. Ngoài ra lĩnh vực công nghệ ngày càng phát triển những thuật ngữ mới mà Luật SHTT và bảo hộ tác quyền Việt Nam chưa theo kịp. Điển hình như các game Blockchain, các hình ảnh NFT nhân vật, các mô tip game…có thể thu lợi nhuận không phải chỉ qua việc thu phí chơi game mà còn qua việc bán các vật phẩm game, hình ảnh Game dạng NFT nhưng đã được đăng ký tác quyền Để thiết kế 1 hình ảnh NFT độc quyền trong 1 game, nhiều đối tác phải đầu tư rất nhiều kinh phí thuê họa sĩ, nhà thiết kế, lập trình viên… để tạo ra hình ảnh, nhưng chỉ cần 1 lệnh copy NFT đó có thể xuất hiện dễ dàng tại 1 game khác hoặc tại 1 mạng lưới Blockchain khác và được bán với giá hàng ngàn USD. Do vậy tầm quan trọng của việc được tư vấn đầy đủ trước khi bảo hộ 1 game sáng tạo là hết sức cần thiết.
2) Lợi ích của việc đăng ký bảo hộ game với xu hướng game hiện nay.
- Xu hướng game hiện nay là gì?
Nếu như game truyền thống được tạo ra với mục đích ban đầu là giải trí thì game hiện đại ngày nay đã có sự thay đổi về mục đích, nó không đơn thuần là chơi để giải trí nữa.
GameFi là một xu hướng rất mới hiện nay, trong đó GameFi đề cập đến các trò chơi blockchain có khả năng kiếm tiền, cung cấp cho người cho động lực kinh tế khi chơi.
Khái niệm GameFi được hiểu là sự kết hợp giữa khái niệm trò chơi điện tử (Game) và tài chính phi tập trung (Defi – Decentralized Finance). GameFi đề cập đến các trò chơi dựa trên nền tảng công nghệ blockchain có khả năng kiếm tiền, tạo động lực về mặt kinh tế cho người chơi bên cạnh mục tiêu giải trí ban đầu. GameFi sử dụng hệ sinh thái bao gồm tiền mã hóa, token không thể thay thế (Non-fungible token – NFT) và với công nghệ blockchain để tạo thành một môi trường để người chơi có thể kiếm tiền trong đó.
Khi chơi một game thuộc GameFi, người chơi sẽ phải thực hiện các nhiệm vụ nhất định để nhận được một NFT, NFT này đóng vai trò trung gian trong các giao dịch mua bán và trao đổi để đem về lợi nhuận cho người chơi. Nhờ sử dụng công nghệ blockchain mà GameFi sẽ cho phép người chơi là chủ sở hữu duy nhất và được xác minh các yếu tố ảo trong trò chơi.
Điều này khác với các trò game truyền thống thông thường, khi người dùng thậm chí phải bỏ tiền để trang bị các vật phẩm, kĩ năng cho nhân vật trong game nếu muốn giảm thời gian chơi và chờ đợi. Đối với GameFi, vì đây là trò chơi để kiếm tiền nên người chơi sẽ bỏ thời gian và công sức cộng với chiến lược riêng của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ, hoặc chiến đấu với nhân vật khác hoặc với quái vật, vượt qua người chơi khác, điểm danh hàng ngày … để nhận được thành quả là các vật phẩm là các NFT để lên cấp.
Một điểm khác so với các trò chơi truyền thống là hầu hết trò chơi blockchain đề cho phép người chơi chuyển các vật phẩm game ra khỏi thế giới ảo của trò chơi. Điều này cho phép người chơi giao dịch các mặt hàng của họ trên thị trường NFT và bán tiền mã hóa trên các sàn giao dịch, đây chính là ý nghĩa của GameFi hay còn được gọi với cái tên khác là Play to earn (chơi để kiếm tiền).
Các GameFi điển hình đã đạt được thành công nhất định phải kể đến là Axe Infinity, Thetan Arena, The Sandbox (SAND), Star Atlas,…
- Đăng ký bảo hộ game theo xu hướng game hiện nay
Việc tích hợp NFT và ứng dụng công nghệ blockchain khiến GameFi không cần phải đầu tư một khoản vốn lớn cũng như phần cứng cấu hình cao để có thể tham gia. Người chơi chỉ cần một thiết bị di động như smartphone, hoặc laptop là đủ để tham gia GameFi khiến cho tiềm năng phát triển của nó thực sự rất lớn bởi hiện nay hầu như smartphone là thiết bị không thể thiếu của rất nhiều người.
Khi đó đăng ký bảo hộ game theo xu hướng GameFi sẽ có một hướng đi khác, đó là đăng ký bảo hộ đối với các vật phẩm trong game dưới dạng NFT.
Thủ tục đăng ký bảo hộ NFT cũng tương tự như thủ tục đăng ký bảo hộ game nhưng ở phần mô tả nội dung đối tượng đăng ký bảo hộ không mô tả toàn bộ game mà chỉ mô tả riêng phần NFT đó.
Chi tiết xin liên hệ CÔNG TY LUẬT TNHH WINCO- CÔNG TY SỞ HỮU TRÍ TUỆ WINCO để được tư vấn:
Trụ sở tại Hà Nội:
54 Phố Trần Quốc Vượng, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: (84-24) 3 7628119 / (84-24) 3 7628185
Fax : (84-24) 3 7628120 / (84-24) 3 7628526
E-mail: winco@winco.vn; patent@winco.com.vn
Website: www.wincolaw.com.vn
Chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh:
L81-24.OT12, Tòa nhà Landmark 81, Vinhomes Central Park, 720A Điện Biên Phủ, Phường 22, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;
ĐT: (84-28) 3 8218291 * (84-28) 3 8214594 * Fax : (84-28) 3 8218292
E-mail: info@winco.com.vn; winco@winco.vn; patent@winco.com.vn
Website: https://www.wincolaw.com.vn
Các bạn theo dõi các phần trước của chủ đề game:
Phần 1: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ
Phần 2: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI GAME NHƯ THẾ NÀO?
Đầu tư vào nguyên cứu và phát triển (R&D) đang ở mức độ cao chưa từng thấy. Ước tính rằng đầu tư vào R&D toàn cầu đã đạt 2.476 nghìn tỉ USD vào năm 2022, thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ liên tục về số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế điều này đang đặt hệ sinh thái bằng sáng chế toàn cầu, đặc biệt là các văn phòng bằng sáng chế, vào tình trạng căng thẳng. Sự gia tăng về số lượng và độ phức tạp của các đơn xin cấp bằng sáng chế có thể dẫn đến sự chậm trễ đáng kể trong việc cấp bằng, dẫn đến sự không chắc chắn về mặt pháp lý, có thể kìm hãm sự đổi mới, không khuyến khích đầu tư vào R&D và làm xói mòn khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế quốc gia.
Một nghiên cứu của Văn phòng Bằng sáng chế Nhật Bản vào năm 2018, ước tính rằng các thẩm định viên của họ đã dành 30% trong tổng thời gian của mình để tìm kiếm tình trạng kỹ thuật (minh chứng về sáng chế đã được biết đến) và thêm 10% thời gian nữa để hiểu về nó.
Dùng AI hỗ trợ trong việc xác định tình trạng kỹ thuật tiềm năng
Một phương pháp đang được các văn phòng cấp bằng sáng chế áp dụng để cải thiện khả năng cấp bằng sáng chế kịp thời là sử dụng các giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ xác định tình trạng kỹ thuật tiềm năng trong quá trình thẩm định. AI có thể bắt chước, với tốc độ nhanh, khả năng của con người trong việc so sánh dữ liệu giữa các đơn xin cấp bằng sáng chế với các bằng sáng chế hiện có và các ấn phẩm không phải bằng sáng chế để phát hiện ra những điểm tương đồng mà thẩm định viên có thể đánh giá khi tìm kiếm về tình trạng kỹ thuật. Mặc dù điều này không thay thế được yêu cầu phải đánh giá kết quả tìm kiếm bằng thẩm định viên con người, nhưng nó có thể tăng tốc đáng kể việc đánh giá trong hơn 70% số đơn.

Kathy Van Der Herten (ảnh trên) cho biết , sự gia tăng về số lượng và độ phức tạp của các đơn xin cấp bằng sáng chế có thể dẫn đến sự chậm trễ đáng kể trong việc cấp bằng, nhưng AI có thể giúp đẩy nhanh quá trình đó. (Ảnh: Được sự cho phép của CAS)
“AI có thể bắt chước, với tốc độ nhanh, khả năng của con người trong việc so sánh dữ liệu giữa các đơn xin cấp bằng sáng chế với các bằng sáng chế hiện có và các ấn phẩm không phải bằng sáng chế để phát hiện ra những điểm tương đồng mà thẩm định viên có thể đánh giá…”
Sự gia tăng về số lượng và độ phức tạp của các đơn xin cấp bằng sáng chế
Dựa trên dữ liệu của WIPO, CAS, một bộ phận của Hiệp hội Hóa học Hoa Kỳ, ước tính rằng năm cơ quan cấp bằng sáng chế hàng đầu đã có tốc độ tăng trưởng gộp hàng năm là 4,4% về số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế từ năm 2012 đến năm 2021. Thêm vào sự gia tăng về số lượng đơn là sự tăng lên về mức độ phức tạp của bằng sáng chế, như đã thấy trong số lượng yêu cầu bảo hộ cho bằng sáng chế, bằng sáng chế được trích dẫn cho mỗi yêu cầu, trích dẫn về tình trạng kỹ thuật cho mỗi bằng sáng chế và các định lượng khác.
Tìm kiếm tình trạng kỹ thuật là một quá trình phức tạp, lặp đi lặp lại và tốn thời gian. Đối với mỗi đơn, người tìm kiếm và thẩm định viên phải đưa ra chiến lược tìm kiếm, lựa chọn sử dụng cơ sở dữ liệu nào, thực hiện việc tìm kiếm, xác minh kết quả và nếu cần, tinh chỉnh và lặp lại việc tìm kiếm sử dụng các tham số khác nhau.
Quy mô của công việc tìm kiếm này rất đáng kinh ngạc. Theo một nghiên cứu của Văn phòng Bằng sáng chế Châu Âu, việc tìm kiếm đơn xin cấp bằng sáng chế toàn diện có thể dựa trên tìm kiếm tình trạng kỹ thuật trong khoảng 1,3 tỷ hồ sơ kỹ thuật có trong 179 cơ sở dữ liệu, dẫn đến khoảng 600 triệu tài liệu xuất hiện trong kết quả tìm kiếm mỗi tháng.
“Tìm kiếm tình trạng kỹ thuật trong khoảng 1,3 tỷ hồ sơ kỹ thuật có trong 179 cơ sở dữ liệu, dẫn đến khoảng 600 triệu tài liệu xuất hiện trong kết quả tìm kiếm mỗi tháng.”
Sự phát triển của các công nghệ mới và sự phức tạp của các đơn xin cấp bằng sáng chế đòi hỏi các thẩm định viên phải liên tục mở mang trình độ trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Nếu được cấp cho dữ liệu có cấu trúc và được quản lý chặt chẽ, AI có thể tăng tốc quá trình bằng cách sàng lọc hàng triệu bộ dữ liệu và cung cấp các tài liệu tham khảo có khả năng xung đột với đơn đăng ký sáng chế mục tiêu.
Tăng tốc thẩm định bằng sáng chế với các giải pháp có AI hỗ trợ
Nhiều văn phòng cấp bằng sáng chế đang chuyển sang sử dụng các giải pháp được AI hỗ trợ để giúp họ giải quyết số lượng và độ phức tạp ngày càng tăng lên của các đơn xin cấp bằng sáng chế. Theo WIPO, hơn 70 ứng dụng liên quan đến AI đang được triển khai ở 27 văn phòng bằng sáng chế quốc gia, trong đó có 13 ứng dụng tập trung vào tìm kiếm tình trạng kỹ thuật. Mặc dù đây không phải là giải pháp hoàn chỉnh trong toàn bộ quy trình thẩm định, nhưng chúng nhằm mục đích đẩy nhanh thời gian thẩm định, điều này thúc đẩy sự kịp thời và cuối cùng là sự hài lòng của khách hàng.

AI có thể đẩy nhanh quá trình thẩm định bằng sáng chế bằng cách sàng lọc hàng triệu bộ dữ liệu và cung cấp các tài liệu tham khảo có khả năng xung đột với một đơn xin cấp bằng sáng chế đã nộp. (Ảnh: koto_feja/iStock/Getty Images Plus)
Chẳng hạn, Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Canada đang sử dụng các công cụ tìm kiếm AI có sẵn trên thị trường để tìm ra mối liên kết giữa các trích dẫn, đơn đăng ký sáng chế và tình trạng kỹ thuật hiện tại. Văn phòng Bằng sáng chế Nhật Bản (JPO) đang sử dụng AI để lập chỉ mục tệp, đề xuất các phân loại sáng chế có liên quan và các từ khóa và xếp hạng các tài liệu tình trạng kỹ thuật sáng chế theo mức độ liên quan. Trong khi đó, Văn phòng Nhãn hiệu và Bằng sáng chế Hoa Kỳ (USPTO) đang sử dụng AI để giúp xác định khả năng cấp bằng sáng chế, phân tích lịch sử truy tố bằng sáng chế và cải thiện quyền truy cập công khai vào dữ liệu USPTO.
“Học máy có hiệu quả đối với việc tìm kiếm văn bản và các thuật ngữ được lập chỉ mục, nhưng kém hiệu quả hơn đối với các bằng sáng chế liên quan đến thành phần cấu thành của vật chất, vốn thường chứa dữ liệu quan trọng ẩn chứa ở các cấu trúc bên trong.”
Gần đây, Viện sở hữu công nghiệp quốc gia (INPI) của Brazil đã làm việc với CAS để hoàn thành một dự án sử dụng quy trình làm việc tối ưu hóa có sự hỗ trợ của AI để tăng tốc tìm kiếm tình trạng kỹ thuật trong lĩnh vực hóa học. Các đơn sáng chế lĩnh vực hóa học, chiếm khoảng 15% số hồ sơ tồn đọng của INPI Brazil, cực kỳ phức tạp và yêu cầu cả sự tìm kiếm dựa trên văn bản và dựa trên cấu trúc của các ấn phẩm bằng sáng chế và không phải bằng sáng chế. Thành phần AI của giải pháp được tích hợp bốn luồng thuật toán, diễn đạt những kiểu tương đồng khác nhau và các phân tích khác để đảm bảo kết quả có tính liên quan cao.
Mỗi thuật toán đều có điểm mạnh của nó. Học máy hiệu quả đối với việc tìm kiếm văn bản và các thuật ngữ đã được lập chỉ mục, nhưng kém hiệu quả hơn đối với các bằng sáng chế liên quan đến thành phần cấu thành của vật chất (trong đó có hai hoặc nhiều hơn các hợp chất được trộn lẫn với nhau) vốn thường chứa dữ liệu quan trọng ẩn chứa ở các cấu trúc bên trong. Tương tự như vậy, một cơ sở dữ liệu đồ thị có thể tìm thấy những điểm tương đồng và các liên kết mà học máy không thể. Một thuật toán tổng hợp sau đó phân tích kết quả từ bốn luồng và đi đến một danh sách duy nhất các ấn phẩm có nhiều khả năng có xung đột với đơn đăng ký sáng chế mục tiêu nhất.
Những lợi ích đối với năng suất là rất đáng kể:
- Giảm thời gian thẩm định lên đến 50%;
- Giảm thời gian tìm kiếm cho hơn 75% các đơn đăng ký được xử lý;
- Đóng góp vào việc giảm tổng thể 80% số lượng hồ sơ tồn đọng bằng sáng chế của INPI.
Dữ liệu có chất lượng, kết quả có chất lượng
Dữ liệu có chất lượng rất quan trọng để huấn luyện các thuật toán AI. Các thuật toán học máy có thể truy cập càng nhiều dữ liệu thì kết quả của chúng càng phù hợp, chắc chắn và đáng tin cậy. Phần lớn dữ liệu công khai có sẵn không được tuyển chọn có thể bao gồm lỗi sao chép, gắn nhãn sai cho các đơn vị, và ngôn ngữ bằng sáng chế phức tạp quá mức, tất cả đều cản trở việc tìm kiếm. Điều này đặc biệt khó khăn trong lĩnh vực hóa học và khoa học đời sống, nơi các khái niệm được mô tả không nhất quán giữa các ấn phẩm hoặc có các từ khóa được ẩn sâu trong bảng biểu hoặc hình ảnh. Việc sử dụng dữ liệu do nhà khoa học tuyển chọn đã được chuẩn hóa, được chuẩn bị và được kết nối ở định dạng có cấu trúc giúp thông tin có thể được tìm kiếm dễ dàng hơn và cải thiện việc huấn luyện các thuật toán AI cũng như hiệu suất tìm kiếm về tình trạng kỹ thuật của sáng chế.
“Mặc dù việc huấn luyện các nhóm có thể khác nhau giữa các công nghệ, chuyên ngành và các đơn sáng chế, nhưng cách tiếp cận cơ bản để áp dụng AI vẫn giống nhau.”
Đối với dự án INPI Brazil, chúng tôi chủ yếu dựa vào Bộ sưu tập nội dung CAS™, bộ sưu tập dữ liệu khoa học đời sống và hóa học lớn nhất thế giới, được trích xuất, lập chỉ mục và liên kết để đơn giản hóa việc truy cập và truy xuất thông tin liên quan. Ngoài ra, chúng tôi đã tạo ra một mẫu bằng sáng chế ngẫu nhiên từ thuật toán huấn luyện mà chúng tôi đã sử dụng như nhóm kiểm soát để đo lường độ chính xác của kết quả và tỷ lệ tìm trúng. Những bằng sáng chế này đã được đánh giá bởi các thẩm định viên tại các văn phòng bằng sáng chế ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Châu Âu, đồng thời được nhóm chuyên gia tìm kiếm IP của chúng tôi xác thực về mức độ phù hợp.
Mặc dù việc huấn luyện các nhóm có thể khác nhau giữa các công nghệ, chuyên ngành và các đơn sáng chế, nhưng cách tiếp cận cơ bản để áp dụng AI vẫn giống nhau. Đối với bất kỳ lĩnh vực công nghệ nào, các trích dẫn xung đột được sử dụng để xác định trong suốt quá trình kiểm tra cho mọi nhóm huấn luyện. Các chuyên môn có độ phức tạp cao như hóa học có thể hoạt động tốt hơn với nhóm huấn luyện theo chủ đề cụ thể, nhưng các chuyên môn khác có thể không cho thấy sự cải thiện đáng kể khi sử dụng nhóm huấn luyện nhắm mục tiêu. Trong nhiều lĩnh vực, miễn là công nghệ được hiện diện trong một nhóm huấn luyện chung, các mô hình sẽ hoạt động tốt.
Tuy vậy, chất lượng của dữ liệu có tầm quan trọng đáng kể.
Sự tích hợp tận dụng chuyên môn con người và quy trình làm việc và công nghệ
Các nhóm dự án AI yêu cầu một phạm vi rộng lớn trình độ chuyên môn về các lĩnh vực khác nhau. Dự án INPI Brazil đã kết hợp công nghệ với các chuyên gia về phân tích dữ liệu, tích hợp quy trình làm việc, điện toán hiệu suất cao, sự tìm kiếm mang tính khoa học và nhiều lĩnh vực khác.
Các thành viên trong nhóm cần có chuyên môn liên chức năng trong các thử thách và kết quả đầu ra đang được đề cập đến. Chẳng hạn, một người có kinh nghiệm về khoa học dữ liệu có thể không phát triển được các thuật toán hiệu quả hoàn toàn nếu họ không hiểu các sắc thái của cấu trúc hóa học. Các nhà khoa học máy tính tạo ra các mô hình học máy cũng phải hiểu cấu trúc và dữ liệu hóa học.
Tích hợp quy trình làm việc là một nguyên tắc quan trọng khác trong việc tạo ra một giải pháp toàn diện cho các văn phòng bằng sáng chế. Những thẩm định viên phải truy cập nhiều hệ thống và thư mục để tìm kiếm tài liệu trong quá trình đánh giá có thể hưởng lợi từ những cải tiến quy trình làm việc và những cải tiến công nghệ hướng đến một bảng điều khiển kỹ thuật số duy nhất nơi có thể truy cập và phân tích tất cả các đơn đăng ký và tài liệu hỗ trợ cũng như nơi họ có thể thấy lý do tại sao một số tài liệu tham khảo nhất định được trả về và kết quả được tạo ra như thế nào, cung cấp khả năng truy xuất nguồn gốc mà họ cần để ghi lại các quyết định truy tố và đánh giá chất lượng nội bộ.
Tổng kết lại
Có thể cải thiện đáng kể năng suất, hiệu quả và dịch vụ khách hàng của văn phòng bằng sáng chế khi các thẩm định viên có thể sử dụng các công cụ được xây dựng dựa trên các công nghệ mới nhất, chẳng hạn như AI. Khi sự đổi mới tăng nhanh, số lượng và độ phức tạp của các đơn xin cấp bằng sáng chế cũng tăng theo. Điều này có nghĩa là các văn phòng bằng sáng chế sẽ tiếp tục yêu cầu các phương pháp mới để tối ưu hóa quy trình thẩm định bằng sáng chế và do đó đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan về mức độ hài lòng cao hơn đối với dịch vụ.
Mặc dù các giải pháp AI có thể giúp giải quyết những thách thức không ngừng phát triển này, nhưng chúng vẫn sẽ yêu cầu chuyên môn để triển khai các phương pháp phù hợp. Cách tiếp cận với “một mô hình phù hợp cho tất cả” sẽ không hiệu quả vì không có hai văn phòng cấp bằng sáng chế nào có nhu cầu giống nhau. Các văn phòng sáng chế có các hoạt động chung giống nhau nhưng khác nhau về trình độ nhân sự và công nghệ cần thiết để hỗ trợ từng lĩnh vực. Mặc dù các thuật toán có thể giải quyết một nhu cầu chung, nhưng cách thẩm định viên tương tác với kết quả đầu ra có thể rất khác nhau dựa trên môi trường công nghệ hiện có của họ.
“Có thể cải thiện đáng kể năng suất, hiệu quả và dịch vụ khách hàng của văn phòng bằng sáng chế khi các thẩm định viên có thể sử dụng các công cụ được xây dựng dựa trên các công nghệ mới nhất, chẳng hạn như AI.”
Những văn phòng sáng chế đang tìm cách đạt được các kết quả chiến lược của mình sẽ yêu cầu những đổi mới tùy chỉnh đáp ứng mong đợi của các bên liên quan bất chấp những hạn chế về nguồn lực. Sự kết hợp giữa dữ liệu tổng hợp đúng đắn, công nghệ và chuyên môn của con người có thể mang lại sự linh hoạt cần thiết để hỗ trợ những cải tiến bền vững trong tương lai.
Đọc thêm về cách AI có thể nâng cao năng suất của hệ thống bằng sáng chế toàn cầu trong sách trắng của CAS có tựa đề “Tính bền vững của hệ thống bằng sáng chế toàn cầu: vai trò của AI trong việc nâng cao năng suất.”
Lời cảm ơn: Matthew Bryan và Andras Jokuti , Lĩnh vực Bằng sáng chế và Công nghệ, WIPO
Bruno Poulequen , Ulrike Till và Young-Woo Yun , Lĩnh vực Cơ sở hạ tầng và Nền tảng, WIPO
Biên tập: Catherine Jewell
Nguồn: tạp chí WIPO Magazine của tổ chức SỞ HỮU TRÍ TUỆ QUỐC TẾ:
https://www.wipo.int/wipo_magazine_digital/en/2023/article_0001.html

Tencent là một công ty công nghệ toàn cầu mà hoạt động phát triển trò chơi điện tử, xuất bản và nền tảng vận hành dẫn đầu thế giới. Họ cũng là công ty tiên phong trên thế giới về đầu tư vào phát minh và công nghệ nổi bật trong lĩnh vực công nghệ tài chính, dịch vụ đám mây, truyền thông kỹ thuật số (công ty có ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí của riêng mình là WeChat, được biết đến với tên gọi Weixin ở Trung Quốc) và nền tảng phát trực tuyến giống như Netflix của riêng mình là Tencent Video. Tập đoàn Giải trí Tương tác của Tencent (Tencent’s Interactive Entertainment Group – IEG) chịu trách nhiệm cho sự phát triển của mảng giải trí tương tác trong hoạt động kinh doanh của công ty, bao gồm cả trò chơi và thể thao điện tử.
Jia Wang, một nhà lãnh đạo kỳ cựu về khoa học dữ liệu và kỹ thuật trong ngành công nghiệp giải trí tương tác mới đây đã ngồi lại với Tạp chí WIPO Magazine để chia sẻ quan điểm của cô về tương lai của ngành công nghiệp trò chơi điện tử và vai trò của sỡ hữu trí tuệ (IP) trong công việc hàng ngày của cô ấy. Jia Wang hiện đang là Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Công nghệ tại văn phòng của Tencent ở Palo Alto, California, Hoa Kỳ.
Hãy cho chúng tôi biết về vai trò của cô trong các trò chơi điện tử của Tencent?
Tôi là Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ Công nghệ cho Nhóm nhân viên khu vực Bắc Mỹ, là một phần trong Tencent IEG. Nhóm của tôi làm việc trên các công nghệ tiên tiến như Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), và năng lực đám mây (cloud capabilities). Vai trò của chúng tôi là tối ưu hóa trải nghiệm chơi trò chơi điện tử và đảm bảo rằng mọi thứ vận hành trơn tru để người chơi có thể tận hưởng trò chơi của họ.
Cô đã tham gia vào ngành trò chơi điện tử như thế nào?
Lần gặp gỡ đầu tiên của tôi với trò chơi điện tử đã đến khi tôi đang học Đại học về khoa học máy tính. Một trong những dự án đầu tiên của tôi là tạo ra một trò chơi điện tử. Nhưng niềm đam mê dành cho trò chơi điện tử của tôi chỉ thực sự cất cánh khi tôi tham gia vào King, nhóm sáng tạo của trò chơi Candy Crush, nơi tôi đã làm việc trong vai trò là một nhà khoa học dữ liệu với một nhóm thực sự sáng tạo tại văn phòng Stockholm của họ. Giờ đây, tôi không thể hình dung sẽ làm việc trong một lĩnh vực nào khác. Làm việc với trò chơi điện tử có rất nhiều niềm vui, cả trong công việc chuyên môn và trong xã hội. Tôi làm việc với một đội ngũ tuyệt vời, và chúng tôi mang đến nhiều niềm vui cho cuộc sống của mọi người.
Jia Wang (ảnh trên) giải thích Tencent thấy vũ trụ ảo (metaverse) như một phần của “siêu thực tại kỹ thuật số”, một ý tưởng tích hợp thế giới số với thực tại để tạo nên một trải nghiệm kết hợp, mà sẽ cho phép con người có thể kết nối sâu sắc hơn với thế giới ảo (ảnh chụp: cung cấp bởi Tencent).
Cô phải đối mặt với những thách thức gì khi là một phụ nữ trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử?
Phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực thì đều phải đối mặt với những thách thức. Trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử chúng tôi chắc chắn là thiểu số. Thật biết ơn vì điều đó đang thay đổi. Ở Tencent Hoa Kỳ, có nhiều phụ nữ ở vị trí lãnh đạo và có một niềm tin mạnh mẽ rằng phụ nữ có thể thành công ở đây. Cam kết của công ty về sự đa dạng hóa và hòa nhập là một trong những nguyên nhân khiến đây là một nơi tuyệt vời để làm việc. Điều tốt trong ngành công nghiệp này là nó đòi hỏi nhiều bộ kỹ năng khác nhau, với các vai trò dành cho nhà thiết kế, nhà kiến tạo, sản xuất và quản lý dự án, nhà phát triển, nhà khoa học dữ liệu và hơn thế nữa. Điều đó tạo nên rất nhiều cơ hội cho tất cả mọi người. Trong năm 2020, nhận ra nhu cầu “nói đi đôi với làm”, ở Tencent Hoa Kỳ, chúng tôi đã lập ra Nhóm Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (Diversity, Equity, and Inclusion –DEI-Group). Nhóm hoạt động để củng cố những giá trị này trong công ty và nâng cao nhận thức về những thành kiến vô thức mà tất cả chúng ta đều có.
Cô thấy bối cảnh trò chơi điện tử toàn cầu đang phát triển như thế nào?
Bối cảnh trò chơi điện tử đang thay đổi rất nhanh nhờ những công nghệ mới đang tràn đến. Mấy năm trước, người ta chơi trò chơi điện tử trên các máy cso tay cầm điều khiển hoặc trên máy tính cá nhân (PC). Trò chơi điện tử thực sự thăng hoa khi điện thoại thông minh và những thiết bị di động khác tham gia vào thị trường. Điều đó, cùng sự bắt đầu của các mô hình chơi miễn phí (free-to-play), đã thực sự thúc đẩy tính đại chúng của các trò chơi và tạo đà để tăng trưởng. Ngày nay, các công nghệ như thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR) và trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách mà con người tương tác với công nghệ và tạo ra những cơ hội để trải nghiệm chơi trò chơi điện tử nhập vai tốt hơn. Điều đó, đến lượt nó lại tạo ra cơ hội cho các xưởng trò chơi điện tử phát triển các trò chơi sáng tạo và năng động hơn cho người chơi tận hưởng. Nó cũng có nghĩa rằng họ đang phát hành các trò chơi điện tử của họ trên nhiều nền tảng. Và đó là tin tuyệt vời dành cho người chơi.

“Rất nhiều sự đầu tư đang tập trung để phát triển những công nghệ có thể đưa “cảm giác của thế giới thực” vào trong thế giới ảo để mọi người phát triển các kết nối có cảm xúc mạnh mẽ hơn với nó và có trải nghiệm chơi trò chơi điện tử tốt hơn.” Jia Wang giải thích (ảnh: EvgeniyShkolenko / iStock / Getty ImagesPlus)
Cô nghĩ ngành công nghiệp trò chơi điện tử sắp tới sẽ phát triển như thế nào?
Ngành công nghiệp trò chơi điện tử sẽ tiếp tục phát triển vì như sự cải tiến của các công nghệ, chúng ta có thể làm những điều thú vị mới. Mọi người chơi đều muốn tìm một trò chơi điện tử mà họ thích, điều này sẽ tạo ra sự cải tiến và phát triển của những thể loại trò chơi mới để người chơi bước chân vào vũ trụ các trò chơi điện tử. Trọng tâm hiện nay là sự thấu hiểu rõ hơn những khách hàng của chúng tôi để đưa ra những trò chơi điện tử mà họ muốn. Chúng tôi thực sự sống trong “thời kỳ hoàng kim” của trò chơi điện tử. Ngành công nghiệp này bùng nổ nhờ vào những cốt truyện hay, những lối chơi mới và những công nghệ thế hệ mới. Và còn rất nhiều điều tuyệt vời khác sắp đến.
Tencent hợp tác với nhiều công ty trên khắp thế giới, và mục tiêu của chúng tôi là kiến tạo một vũ trụ trò chơi điện tử toàn cầu để có thể giúp sức cho thành công của họ. Điều đó quan trọng đối với tôi bởi vì, khi trò chơi điện tử là ngành công nghiệp sáng sủa, nó tạo ra nhiều cơ hội việc làm và là nguồn giải trí chính cho hàng trăm triệu người. Nó cũng có tiềm năng to lớn để thúc đẩy sự phát triển của các giải pháp đổi mới và sáng tạo trong các lĩnh vực khác của nhu cầu xã hội.
Và vũ trụ ảo gồm những gì?
Mặc dù có nhiều ồn ào xung quanh cái mà nhiều người gọi là vũ trụ ảo (metaverse), nhưng vẫn chưa rõ ràng nó là gì hoặc nó sẽ phát triển như thế nào. Ở Tencent, chúng tôi thấy nó là một phần của “siêu thực tại kỹ thuật số”, một ý tưởng tích hợp thế giới số với thực tại để tạo nên một trải nghiệm kết hợp. Nó sẽ mang đến cho mọi người trải nghiệm đắm chìm trong thời gian thực và sẽ cho phép họ có thể kết nối với thế giới ảo một cách sâu sắc hơn và để chuyển đổi giữa hai thế giới đó một cách mượt mà. Nó sẽ khơi dậy trí tưởng tượng của con người và đẩy xa các giới hạn của năng lực. Tôi có thể thấy cả một bối cảnh sáng tạo hoàn toàn mới đang hiện lên. Điều đó rất thú vị.
Vai trò của AI và học máy (machine learning) trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử?
AI và học máy được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, chúng giúp cho các nghệ sĩ dễ dàng hơn nhiều để có thể tạo ra các bức tranh phong cảnh một cách nhanh chóng. Chúng cũng cho phép chúng ta đưa nhiều hơn các yếu tố thực vào hình động bằng cách đảm bảo các chuyển động của nhân vật chúng ta tạo ra giống như đời thực. Rất nhiều sự đầu tư đang tập trung để phát triển những công nghệ có thể đưa “cảm giác của thế giới thực” vào trong thế giới ảo để mọi người phát triển các kết nối có cảm xúc mạnh mẽ hơn với nó và có trải nghiệm chơi trò chơi điện tử tốt hơn. Như đã đề cập, đội ngũ của tôi đang làm việc dựa trên các công nghệ tiên tiến như AI, dữ liệu lớn và năng lực đám mây và chúng tôi siêu phấn khích để có thể mang chúng tới thị trường toàn cầu và để giúp những xưởng trò chơi điện tử khác, bao gồm cả những xưởng mới tham gia thị trường, hiện thực hóa giấc mơ của họ.
Trò chơi điện tử có vai trò gì ngoài việc giải trí đơn thuần?
Có nhiều công việc sáng tạo trong lĩnh vực này. Các công nghệ trò chơi điện tử cũng đang được sử dụng để phát triển một số lượng đa dạng các ứng dụng nhỏ dành cho tương tác xã hội. Cho ví dụ, trò chơi điện tử là cách hiệu quả để lưu giữ các yếu tố nghệ thuật lịch sử và văn hóa và khiến chúng có thể tiếp cận đến mọi người. Năm 2018, Tencent đã phát triển một công nghệ 3-D AI siêu thú vị có thể tái tạo các cấu trúc các công trình kiến trúc cũ, như Vạn lý trường thành của Trung Quốc, cho phép người dùng có thể khám phá những cấu trúc đó từ dạng sơ khai, nguyên thủy. Mức độ chi tiết mà công nghệ đạt được là rất đáng kinh ngạc.
“Công nghệ dành cho điều tốt đẹp” là đặc tính trung tâm xuyên suốt của Vũ trụ Tencent.”
Những ứng dụng khác đang được phát triển để sử dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Một ví dụ gần đây là một bài kiểm tra mắt thông minh để sàng lọc bệnh về mắt cho trẻ em. Nó đã được phát triển bởi LighSpeed Studios, một xưởng trò chơi điện tử hàng đầu của Tencent, hợp tác với Trung tâm Nhãn khoa Trung Sơn (Zhongshan Ophthalmic Center -ZOC) tại Đại học Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc. Trong bài kiểm tra đó, trẻ em được xem một video dài 2 phút, trong đó chúng tham gia vào nhiệm vụ cứu các chú rùa con. Cốt truyện hấp dẫn đòi hỏi chúng phải tập trung ánh mắt vào điểm sáng để tìm kiếm các quả trứng rùa. Bài kiểm tra được hoàn thành trong chưa đầy 5 phút, nhanh hơn 90% so với các bài kiểm tra mắt truyền thống, đồng thời cũng đưa ra bài học về bảo vệ môi trường cho trẻ em.
Mất bao lâu để phát triển một trò chơi điện tử và điều gì tạo nên một trò chơi điện tử thành công?
Từ góc độ thiết kế, một trò chơi điện tử thành công cho phép người chơi có thể bắt đầu chơi mà không phải trả tiền cho bất cứ thứ gì. Tại một số thời điểm trong trò chơi điện tử, họ sẽ được đưa cho sự lựa chọn để mua trò chơi hoặc mở khóa màn chơi, nhưng có làm hay không đó hoàn toàn là sự lựa chọn của họ.
“Có thể mất nhiều năm để phát triển và ra mắt một trò chơi điện tử thành công.”
Trong các trò chơi điện tử của chúng tôi, chúng tôi thường mang đến “skins” – một gói đồ họa được tải xuống cho phép người chơi có thể mua để thay đổi vẻ bề ngoài của một nhân vật trong trò chơi điện tử. Điều mà mọi người thường không nhận ra là việc sản xuất một trong những “skins” đẹp đẽ này là cả quá trình sáng tạo tốn kém và kéo dài có thể lên tới hàng năm để tạo ra.
Sở hữu trí tuệ đóng vai trò gì trong công việc hàng ngày của cô?
Tencent có những cam kết mạnh mẽ với sở hữu trí tuệ và công nhận vai trò hỗ trợ của nó trong việc tạo ra một hệ sinh thái sôi động, sáng tạo, và đổi mới hơn dành cho các trò chơi điện tử và các lĩnh vực kinh doanh khác của chúng tôi. Một trò chơi điện tử là sản phẩm của sáng tạo và cả kỹ thuật và sở hữu trí tuệ bảo vệ cả hai khía cạnh đó. Có rất nhiều tài sản trí tuệ liên quan trong các trò chơi điện tử mà chúng tôi phát triển, từ các cơ chế kỹ thuật cho phép làm giàu trải nghiệm của người chơi tới cốt truyện và những anh hùng chúng tôi tạo ra trong trò chơi.
Phát triển trò chơi điện tử kéo theo sự làm việc với nhiều đối tác khác nhau. Mỗi đối tác chịu trách nhiệm trong việc tạo ra nhân tố khác nhau trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử. Đội ngũ của tôi hiểu rằng chúng tôi cần phải cập nhật kiến thức về lĩnh vực IP bởi vì nó đại diện cho lợi ích kinh doanh quan trọng của công ty và các đối tác của chúng tôi. Chúng tôi có những chỉ dẫn rõ ràng cho những điều và khi nào cần phải làm. Chúng tôi đảm bảo những đối tác của mình được biết rằng, mặc dù bảo vệ tài sản trí tuệ của chúng tôi là ưu tiên hàng đầu, nhưng chúng tôi cũng nhận thức được họ cũng cần phải bảo vệ công việc của mình. Khi thảo luận về một dự án, chúng tôi luôn luôn làm rõ các ranh giới về IP để đảm bảo chúng tôi không vượt qua giới hạn đó. Đó là một phản xạ. Nó đảm đảm rằng quyền sở hữu trí tuệ của mọi người luôn luôn được tôn trọng. Nhưng điều quan trọng là cân bằng giữa nhu cầu bảo vệ sở hữu trí truệ với nhu cầu hỗ trợ quá trình sáng tạo bởi vì các ý tưởng nảy ra cùng nhau sẽ khơi dậy nhiều sáng tạo hơn.
“Trong nội bộ Tencent, có sự nhận thức chung về tầm quan trọng của IP tới hoạt động kinh doanh của chúng tôi”
Thông điệp của cô tới giới trẻ, những người muốn tham gia vào ngành công nghiệp này là gì?
Hãy theo đuổi đam mê của bạn. Ngành công nghiệp trò chơi điện tử đầy những đam mê, và có nhiều cá nhân thú vị có ước mơ giống nhau. Hầu hết mọi người làm việc vì đồng lương nhưng tại Tencent, nhiều người làm việc để hiện thực hóa ước mơ của mình.
Nguồn: tạp chí WIPO Magazine của tổ chức SỞ HỮU TRÍ TUỆ QUỐC TẾ
https://www.wipo.int/wipo_magazine/en/2022/04/article_0002.html
-
Game là gì?
Game (hay còn gọi là trò chơi điện tử) là trò chơi sử dụng các thiết bị điện tử để tạo ra một hệ thống tương tác mà người chơi được trải nghiệm, thường là dùngcho mục đích giải trí. Với sự phát triển của công nghệ như hiện nay, game phổ biến nhất là video game (trò chơi điện tử với các hình ảnh chuyển động) và là chủ thể được nói đến mặc định khi đề cập đến khái niệm trò chơi điện tử.
-
Người ta tạo ra game thế nào?
Thiết kế và sáng tạo ra game không đơn giản, mức độ phức tạp của mỗi game tùy thuộc vào mục tiêu của game đó như đối tượng chơi, môi trường hoạt động cũng như các tính năng trong game…
Thông thường, có ba giai đoạn chính để tạo ra game: Tiền kỳ, Sản xuất và Hậu kỳ. Mỗi giai đoạn đều có những vai trò nhất định, góp phần quan trọng trong việc tạo ra game và đưa game đến với công chúng.
Phát hành trò chơi là khâu cuối cùng, chính thức đưa game ra trước công chúng và đến với người chơi. Tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước, game có thể cần phải đăng ký xin giấy phép hoạt động hoặc một số loại giấy phép khác của các cơ quan ban ngành quản lý. Việc đăng ký xin giấy phép sẽ đảm bảo cho game được hợp thức hóa về mặt pháp lý, cũng như đảm bảo các quyền lợi phát sinh về sau nếu có liên quan đến pháp lý trong suốt quá trình hoạt động của game đó.
-
Ai là tác giả, chủ sở hữu của game?
Game có thể được tạo ra bởi một cá nhân trực tiếp sáng tạo ra nó hoặc được tạo ra bởi một số cá nhân mà những sáng tạo của họ được kết hợp với nhau tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh. Những người này chính là tác giả/đồng tác giả của game theo quy định nêu tại Khoản 1 Điều 12a Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2022.
Các tác giả, đồng tác giả của game có thể đồng thời là chủ sở hữu của game nếu họ tạo ra game bằng thời gian, cơ sở vật chất-kỹ thuật và kinh phí của chính họ. Trong trường hợp, game được sáng tạo theo hình thức giao kết hợp đồng (thuê sáng tạo) hoặc được giao nhiệm vụ sáng tạo thì chủ sở hữu của game thuộc về tổ chức/các tổ chức thuê, giao nhiệm vụ sáng tạo cho cá nhân/các cá nhân đó nếu không có thỏa thuận nào khác theo quy định nêu tại Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2022.
Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật thừa kế; tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền cũng là chủ sở hữu quyền tác giả của game theo quy định nêu tại Điều 40, Điều 41 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2022,
-
Game có được bảo hộ sở hữu trí tuệ không?
Game về bản chất là một chương trình máy tính với tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã…của một ngôn ngữ lập trình hoặc chương trình lập trình mà game đó sử dụng. Mặt khác, mã nguồn của game được gắn vào bộ nhớ cụ thể có thể là phân vùng trong ổ cứng hay lưu trên đĩa quang (CD) hay còn gọi là đĩa game, để khi máy tính hoặc thiết bị di động (điện thoại smartphone) đọc được nó sẽ thực hiện công việc là chạy chương trình game đó cho người chơi tham gia để đạt được một kết quả nhất định: người chơi thắng trong game, người chơi thắng nhân vật ảo trong game hoặc thắng người chơi khác nhập vai nhân vật trong game, người chơi trao đổi vật phẩm với nhau trong game hoặc tương tác với nhau…
Đối chiếu với quy định nêu tại Điểm m Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, game được bảo hộ với loại hình là chương trình máy tính thuộc đối tượng là quyền tác giả.
Ngoài ra, tên riêng của game, nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 72, 74 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thì cũng có thể được đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu.
-
Có nên đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với game?
Quyền tác giả đối với game được phát sinh kể từ khi game được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
Tuy nhiên, để bảo vệ tốt nhất quyền sở hữu đối với game được tạo ra đồng thời tạo được ưu thế khi xảy ra tranh chấp, tác giả, chủ sở hữu game nên tiến hành việc đăng ký quyền tác giả đối với game do mình sáng tạo ra càng sớm càng tốt nhất là trong bối cảnh bùng nổ những đột phá về công nghệ thông tin như hiện nay.
Công ty Luật WINCO là tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan, tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp với hơn 20 năm kinh nghiệm, sẵn sàng hỗ trợ tốt nhất cho Quý Khách hàng trong việc tư vấn, đăng ký quyền tác giả đối với game và các đối tượng sở hữu trí tuệ khác như Sáng chế, Giải pháp hữu ích, Kiểu dáng công nghiệp, Nhãn hiệu, Chỉ dẫn địa lý, Giống cây trồng..
Hãy liên lệ với chúng tôi ngay khi Quý khách hàng có nhu cầu để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của chúng tôi tư vấn, hỗ trợ…
Tổng đài tư vấn:
Email: winco@winco.vn
Website: www.wincolaw.com.vn
Mời các bạn xem thêm phần 2 : bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ game như thế nào?
